Bước tới nội dung

Cộng hòa Mahabad

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Cộng hòa Mahabad (tiếng Kurd: Komarî Mehabad; tiếng Ba Tư: جمهوری مهاباد), tên chính thức là Cộng hòa Kurdistan, là một quốc gia tự tuyên bố ngắn ngủi diễn ra tại vùng Mukriyan, thuộc Iran ngày nay. Thực thể này tồn tại từ ngày 22 tháng 1 năm 1946 đến tháng 12 năm 1946, trong bối cảnh cuộc Khủng hoảng Iran năm 1946. Đây được xem là nỗ lực hiện đại đầu tiên nhằm thiết lập một nhà nước tự trị hoặc độc lập cho người Kurd tại Iran.

Bối cảnh lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau cuộc xâm lược Iran của AnhLiên Xô vào năm 1941, quyền kiểm soát của chính phủ trung ương Tehran đối với các vùng biên giới bị suy yếu. Liên Xô chiếm đóng miền Bắc Iran và bắt đầu khuyến khích các phong trào ly khai để tạo ra một vùng đệm chính trị.[1][2]

Tại vùng Mukriyan, một nhóm các thủ lĩnh bộ tộc và trí thức người Kurd đã thành lập tổ chức Komeley Jiyanewey Kurd (Hội Tái sinh người Kurd). Qazi Muhammad, một thẩm phán có uy tín từ một gia đình tôn giáo tại Mahabad, sau đó đã trở thành lãnh đạo của phong trào.[3][4]

Thành lập và cơ cấu chính trị

[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 22 tháng 1 năm 1946, Qazi Muhammad tuyên bố thành lập Cộng hòa Kurdistan tại Quảng trường Chuar-chira ở Mahabad.[3] Chính phủ mới bao gồm một nội các gồm 13 bộ trưởng, với Qazi Muhammad giữ chức Tổng thống.[5]

Mặc dù được gọi là Cộng hòa Mahabad, lãnh thổ thực tế của nó chỉ bao gồm Mahabad và các thị trấn lân cận như Bukan, Piranshahr và Oshnavieh thuộc vùng Mukriyan. Tiếng Kurd được tuyên bố là ngôn ngữ chính thức trong giáo dục và quản lý hành chính.[6]

Quan hệ đối ngoại và quân sự

[sửa | sửa mã nguồn]

Cộng hòa Mahabad phụ thuộc chặt chẽ vào sự bảo trợ của Liên Xô.[7] Tuy nhiên, khác với Chính phủ Nhân dân Azerbaijan (một thực thể thân Liên Xô khác được thành lập cùng thời điểm ở phía Bắc), Mahabad có nền tảng dân tộc chủ nghĩa mạnh mẽ hơn là ý thức hệ xã hội chủ nghĩa.

Lực lượng quân sự của nước cộng hòa này chủ yếu dựa vào các chiến binh bộ tộc địa phương và một nhóm khoảng 1.200 chiến binh người Kurd từ Iraq dưới sự chỉ huy của Mustafa Barzani.[8][9].Barzani được phong hàm tướng và trở thành trụ cột quân sự của chính quyền Mahabad.

Sự sụp đổ

[sửa | sửa mã nguồn]

Sự tồn tại của Cộng hòa Mahabad gắn liền với sự hiện diện của quân đội Liên Xô tại Iran. Sau khi chịu áp lực từ các cường quốc phương TâyLiên Hợp Quốc, Liên Xô đã ký thỏa thuận rút quân với chính phủ Iran vào tháng 5 năm 1946.

Mất đi sự hỗ trợ của Liên Xô, vị thế của Mahabad trở nên lung lay. Tháng 12 năm 1946, quân đội Iran tiến vào vùng Azerbaijan và Kurdistan.[1] Nhận thấy sự áp đảo về quân sự và muốn tránh đổ máu cho dân thường, Qazi Muhammad đã quyết định đầu hàng và từ chối chạy trốn cùng lực lượng của Barzani.[3][10]

Vào ngày 31 tháng 3 năm 1947, Qazi Muhammad cùng một số quan chức cấp cao khác đã bị chính quyền Iran treo cổ tại chính quảng trường nơi nước cộng hòa được tuyên bố thành lập.[11]

Dù chỉ tồn tại chưa đầy một năm, Cộng hòa Mahabad vẫn là biểu tượng quan trọng trong phong trào dân tộc Kurd. Nó đã đặt nền móng cho những nỗ lực tự trị sau này và bài quốc ca của nó, "Ey Reqîb", vẫn được người Kurd sử dụng rộng rãi cho đến ngày nay.[3][6]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. 1 2 "AZERBAIJAN v. History from 1941 to 1947". Encyclopaedia Iranica (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026.
  2. Wilford, Hugh (2013). America's great game : the CIA's secret Arabists and the shaping of the modern Middle East. Internet Archive. New York : Basic Books, a member of the Perseus Books Group. ISBN 978-0-465-01965-6.
  3. 1 2 3 4 "Thesis: The Republic of Kurdistan - Đại học Leiden" (PDF).
  4. Voller, Yaniv (ngày 4 tháng 9 năm 2014). The Kurdish Liberation Movement in Iraq: From Insurgency to Statehood (bằng tiếng Anh). Routledge. ISBN 978-1-134-59089-6.
  5. Ideology and power in the Middle East : studies in honor of George Lenczowski. Internet Archive. Durham : Duke University Press. 1988. ISBN 978-0-8223-0781-5.{{Chú thích sách}}: Quản lý CS1: khác (liên kết)
  6. 1 2 "The History of Kurdish Language - KURDISTANICA" (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026.
  7. Taher, Hawar Kh (ngày 30 tháng 3 năm 2017). "پێگه‌هێ سیاسى یێ ئیرانێ پشتى رێكه‌فتنا پێنج كو ئێك (5+1)". Humanities Journal of University of Zakho (bằng tiếng Ả Rập). Quyển 5 số 1. tr. 35–45. doi:10.26436/hjuoz.2017.5.1.205. ISSN 2664-4681.
  8. McDowall, David (ngày 14 tháng 5 năm 2004). A Modern History of the Kurds (bằng tiếng Anh). Bloomsbury Academic. ISBN 978-1-85043-416-0.
  9. "FRONTLINE/WORLD . IRAQ - The Road to Kirkuk . Kurds at the Crossroads - 1946-1975: False Starts and False Friends | PBS". www.pbs.org. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2026.
  10. Ahmadzadeh, Hashim (tháng 3 năm 2006). "Women of a Non-State Nation: The Kurds, Shahrzad Mojab, ed., Kurdish Studies Series, No. 3, Costa Mesa and California: Mazda Publishers, 2001, ISBN: 1-56859-093-8, 263 pp". Iranian Studies (bằng tiếng Anh). Quyển 39 số 1. tr. 118–121. doi:10.1017/S0021086200022763. ISSN 0021-0862.
  11. Meiselas, Susan (1997). Kurdistan: In the Shadow of History (bằng tiếng Anh). Random House Publishing Group. ISBN 978-0-679-46199-9.