Bước tới nội dung

Giải Oscar

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Giải Oscar
Hiện tại: Giải Oscar lần thứ 99
Mô tảNhững thành tựu xuất sắc nhất trong điện ảnh
Quốc gia Hoa Kỳ
Được trao bởiViện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh
Lần đầu tiên1929
Trang chủwww.oscars.org

Giải thưởng Viện Hàn lâm (tiếng Anh: Academy Awards), hay thường được biết đến với tên gọi thân thuộc là giải Oscar, là giải thưởng tôn vinh những giá trị nghệ thuật và thành tựu kỹ thuật xuất sắc trong lĩnh vực điện ảnh.[1][2] Được trao định kỳ hằng năm bởi Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Hoa Kỳ (AMPAS), giải thưởng này là sự ghi nhận dành cho những dấu ấn điện ảnh kiệt xuất trên toàn thế giới, thông qua kết quả bình chọn từ chính các hội viên của Viện[3] Trong ngành công nghiệp điện ảnh, Oscar được xem là biểu tượng danh giá bậc nhất, với tầm ảnh hưởng bao trùm mà tâm điểm là các tác phẩm đến từ xưởng phim Hollywood.[4]

Các hạng mục giải thưởng chính, thường được gọi là Giải thưởng Cống hiến của Viện Hàn lâm (Academy Awards of Merit),[5] được trao trong một lễ trao giải phát sóng trực tiếp từ Hollywood vào tháng 2 hoặc tháng 3 hằng năm. Đây là lễ trao giải giải thưởng giải trí lâu đời nhất trên toàn thế giới vẫn còn duy trì đến nay.[1] Kỳ Oscar đầu tiên được tổ chức vào năm 1929.[6] Đến lễ trao giải lần thứ hai vào năm 1930, sự kiện này lần đầu tiên được phát thanh trên đài radio, và chính thức lên sóng truyền hình vào năm 1953.[1] Là giải thưởng lâu đời nhất trong "bộ tứ" giải thưởng giải trí thường niên lớn nhất nước Mỹ, Oscar còn là khuôn mẫu để xây dựng nên các giải thưởng tương đương khác: Emmy trong lĩnh vực truyền hình, Tony trong sân khấu BroadwayGrammy trong âm nhạc.[7] Về mặt thiết kế, bức tượng vàng Oscar khắc họa hình ảnh một hiệp sĩ được điêu khắc theo phong cách nghệ thuật Art Deco.[8]

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ trao giải Oscar đầu tiên diễn ra vào ngày 16 tháng 5 năm 1929 trong một bữa tối thân mật tại khách sạn Hollywood Roosevelt, với sự tham dự của khoảng 270 khách mời.[9]

Sau lễ trao giải, một tiệc mừng hậu sự kiện đã được tổ chức tại khách sạn Mayfair.[10] Giá vé tham dự đêm đó là 5 USD (tương đương khoảng 92 USD theo giá trị năm 2026). Tổng cộng 15 bức tượng vàng đã được trao nhằm vinh danh các nghệ sĩ, đạo diễn và những người hoạt động trong ngành điện ảnh thời bấy giờ cho những đóng góp của họ trong giai đoạn 1927–1928. Toàn bộ buổi lễ diễn ra vỏn vẹn trong 15 phút.

Ở kỳ trao giải đầu tiên, danh sách người chiến thắng được công bố cho báo giới trước đó tới ba tháng.[11] Sang lễ trao giải thứ hai năm 1930 và trong suốt thập kỷ đầu tiên, kết quả được chuyển đến các tòa soạn để phát hành vào đúng 23:00 đêm trao giải.[10] Tuy nhiên, việc tờ Los Angeles Times lỡ tiết lộ tên những người thắng cuộc ngay trước khi buổi lễ bắt đầu vào năm 1940 đã buộc Viện Hàn lâm phải chuyển sang dùng phong bì dán kín kể từ năm 1941.[10] Tên gọi "Oscar" hiện là nhãn hiệu đã được đăng ký bảo hộ của AMPAS.

Về mặt lịch sử, Oscar từng được coi là đỉnh cao của sự hào hoa và xa xỉ tại Mỹ; song xu hướng dịch chuyển khỏi truyền hình truyền thống cùng các show trao giải đã khiến vị thế này dần rơi vào tay Met Gala.[12] Trước đà sụt giảm lượng người xem trên truyền hình, lễ trao giải Oscar dự kiến sẽ chính thức chuyển sang phát sóng trên nền tảng YouTube kể từ năm 2029.[13]

Những cột mốc quan trọng

[sửa | sửa mã nguồn]

Emil Jannings là nam diễn viên đầu tiên vinh dự nhận giải Nam diễn viên chính xuất sắc nhất cho màn trình diễn trong hai bộ phim The Last CommandThe Way of All Flesh. Do phải trở về châu Âu trước khi buổi lễ diễn ra, ông đã được Viện Hàn lâm chấp thuận trao giải sớm, qua đó chính thức trở thành chủ nhân đầu tiên của tượng vàng Oscar trong lịch sử. Tại kỳ trao giải mở màn này, các thắng giải được ghi nhận dựa trên tổng hợp nhiều tác phẩm trong thời gian xét duyệt; Jannings đăng quang nhờ vai diễn trong hai bộ phim ông đảm nhận vai chính, còn Janet Gaynor trở thành Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất đầu tiên nhờ màn thể hiện ấn tượng trong ba tác phẩm khác nhau. Kể từ kỳ trao giải thứ hai, diễn viên được đề cử riêng biệt cho từng phim cụ thể; và từ sau lễ trao giải lần thứ 3 đến nay, không còn bất kỳ diễn viên nào nhận được nhiều đề cử trong cùng một hạng mục.

Trong 5 kỳ trao giải đầu tiên, khung thời gian xét duyệt tư cách tham dự kéo dài từ ngày 1 tháng 8 đến ngày 31 tháng 7 năm sau. Lần thứ 6, khung thời gian này được nới rộng từ 1/8/1932 đến 31/12/1933. Kể từ kỳ Oscar thứ 7 trở đi, khoảng thời gian xét duyệt chính thức trùng với năm dương lịch (ngoại trừ lễ trao giải lần thứ 93, khi đại dịch COVID-19 buộc Viện Hàn lâm phải gia hạn thời hạn xét duyệt đến ngày 28/2/2021).[14]

Hạng mục Phim tiếng nước ngoài hay nhất - nay đã đổi tên thành Phim quốc tế xuất sắc nhất - ban đầu ra đời tại kỳ trao giải lần thứ 20 như một giải thưởng đặc biệt, trước khi chính thức trở thành hạng mục tranh giải chính thức từ lễ trao giải lần thứ 29.[15]

Đến kỳ Oscar thứ 74 diễn ra vào năm 2002, giải thưởng Phim hoạt hình xuất sắc nhất lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử và bộ phim Shrek đã vinh dự trở thành tác phẩm mở màn bước lên bệ chiến thắng.[16]

Kể từ năm 1973, ngoại trừ ngoại lệ vào năm 2021, mọi lễ trao giải Oscar đều khép lại bằng việc xướng tên tác phẩm đoạt giải Phim hay nhất. Theo thông lệ, những ngôi sao đăng quang ở các hạng mục diễn xuất sẽ đảm nhận vai trò trao giải trong mùa giải kế tiếp. Cụ thể, chủ nhân giải Nam diễn viên chínhNam diễn viên phụ năm trước sẽ lần lượt trao giải cho Nữ diễn viên chínhNữ diễn viên phụ của năm sau, và ngược lại. Đến năm 2009, mô hình này được thay thế bằng thể thức Fab 5, nơi mỗi hạng mục diễn xuất sẽ do 5 cựu quán quân cùng bước ra sân khấu giới thiệu, với mỗi người đảm nhận phần tôn vinh một ứng viên trong danh sách đề cử.[17] Sau 15 năm vắng bóng, định dạng trao giải Fab 5 này đã chính thức tái xuất tại kỳ Oscar năm 2024.

Vào ngày 9 tháng 2 năm 2020, Parasite đã đi vào lịch sử khi trở thành tác phẩm không dùng tiếng Anh đầu tiên đăng quang hạng mục Phim hay nhất tại lễ trao giải Oscar lần thứ 92.[18]

Do chịu ảnh hưởng nặng nề từ đại dịch COVID-19 đối với ngành điện ảnh, lễ trao giải Oscar lần thứ 93 - sự kiện tôn vinh các tác phẩm xuất sắc nhất năm 2020 và đầu năm 2021 - đã phải dời lịch tổ chức từ ngày 28 tháng 2 sang ngày 25 tháng 4 năm 2021. Tương tự hai mùa giải trước, đêm trao giải tiếp tục diễn ra mà không có người dẫn chương trình (host) và được phát sóng trực tiếp trên đài ABC. Sự kiện đánh dấu năm thứ 19 liên tiếp được ấn định tại Nhà hát Dolby (Los Angeles, California), đồng thời mở rộng thêm địa điểm vệ tinh tại ga trung tâm Union Station ngay trong thành phố.[19] Trước những tác động phức tạp của dịch bệnh lên ngành phim ảnh và truyền hình, Chủ tịch Viện Hàn lâm David Rubin cùng Giám đốc Điều hành Dawn Hudson đã ra thông báo đặc cách: chấp thuận tư cách dự thi cho các bộ phim phát sóng trực tuyến, miễn là tác phẩm đó từng có kế hoạch phát hành tại rạp.[20] Quy định bắt buộc công chiếu tại rạp sau đó đã chính thức được khôi phục kể từ kỳ Oscar lần thứ 95.[21]

Tượng vàng Oscar

[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng quan

[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng vàng Oscar, với tên gọi chính thức là Giải thưởng Cống hiến của Viện Hàn lâm,[22] là phần thưởng cao quý được trao cho những cá nhân và tập tác phẩm chiến thắng tại mỗi mùa giải. Được đúc bằng đồng mạ vàng trên đế kim loại đen, bức tượng sở hữu chiều cao 13,5 inch (34,3 cm) cùng trọng lượng 8,5 lb (3,9 kg). Về mặt tạo hình, tượng khắc họa hình ảnh một hiệp sĩ được điêu khắc theo phong cách Art Deco, tay cầm thanh kiếm đứng trên cuộn phim 5 nan hoa. 5 nan hoa này là biểu tượng đại diện cho 5 nhánh sáng lập ban đầu của Viện Hàn lâm, bao gồm: Diễn viên, Biên kịch, Đạo diễn, Nhà sản xuấtKỹ thuật viên.[23]

Tấm biểu trưng Oscar bằng thạch cao thời Chiến tranh (1943), hiện lưu giữ tại Bảo tàng Điện ảnh Trung ương Quốc gia, Warszawa (ru)

Nhà điêu khắc George Stanley, người đồng thời là tác giả của công trình Đài phun nước Nàng thơ (Muse Fountain) tại nhà hát Hollywood Bowl - đã biến bản thiết kế của Cedric Gibbons thành tác phẩm hoàn chỉnh. Tại các kỳ trao giải đầu tiên, những bức tượng vàng được đúc hoàn toàn bằng đồng nguyên khối mạ vàng. Chỉ vài năm sau, chất liệu đồng đã được thay thế bằng kim loại Britannia - một loại hợp kim gần giống thiếc, sau đó lần lượt được mạ qua các lớp đồng, bạc niken và cuối cùng là phủ vàng 24-karat.[22] Trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, do tình trạng thiếu hụt kim loại nghiêm trọng, tượng Oscar đã phải làm bằng thạch cao sơn màu trong suốt ba năm. Sau khi chiến tranh kết thúc, Viện Hàn lâm đã mời những người nhận giải đến đổi lại bức tượng thạch cao lấy tượng kim loại mạ vàng hoàn chỉnh.[24] Vào năm 1960, tạp chí Redbook từng miêu tả về bức tượng này: "Tượng Oscar cao 10 inch, nặng 7 pound, được chế tác từ 92,5% thiếc và 7,5% vàng, với định giá khoảng 60 USD."[25]

Cedric Gibbons (trong ảnh tại lễ trao giải Oscar lần thứ 2 vào tháng 4 năm 1930) chính là nhà thiết kế nguyên bản của bức tượng vàng Oscar.

Kể từ khi ra đời, chỉnh sửa duy nhất đối với tượng Oscar chỉ là một vài tinh chỉnh nhỏ ở phần đế để kiểu dáng trở nên gọn gàng, thanh thoát hơn. Khuôn đúc Oscar nguyên bản được chế tác vào năm 1928 tại xưởng đúc C.W. Shumway & Sons ở Batavia, bang Illinois - nơi cũng từng tham gia đúc khuôn cho cúp vô địch Vince Lombardi và tượng vàng Emmy. Từ năm 1972 đến năm 1986, các bức tượng Oscar được sản xuất tại Công ty Cúp Dodge ở Crystal Lake, bang Illinois.[26] Trong giai đoạn từ năm 1987 đến 2015, mỗi năm có khoảng 50 bức tượng Oscar làm bằng hợp kim thiếc mạ vàng được xuất xưởng tại Chicago bởi nhà sản xuất R.S. Owens & Company.[27] Quy trình chế tác 50 bức tượng này thường kéo dài từ ba đến bốn tuần.[28]

Đến năm 2016, Viện Hàn lâm quyết định đưa đồng trở lại làm chất liệu cốt lõi cho các bức tượng vàng, đồng thời chuyển giao công đoạn chế tác cho Xưởng đúc Mỹ thuật Polich Tallix tại Walden, New York (hiện do UAP Urban Art Projects sở hữu và vận hành).[29][30] Dựa trên bản quét kỹ thuật số từ bức tượng Oscar nguyên bản năm 1929, các tượng vàng thế hệ mới vẫn giữ trọn kích thước của thời kỳ hiện đại cùng phần đế màu đen đặc trưng. Sau khi được đúc bằng đồng chất lỏng từ khuôn gốm in 3D và đánh bóng tỉ mỉ, tượng sẽ trải qua công đoạn mạ điện bằng vàng 24-karat do Công ty Công nghệ Epner tại Brooklyn, New York thực hiện. Thời gian để hoàn thiện lô 50 bức tượng như vậy mất khoảng ba tháng.[31] Trong khi đó, R.S. Owens dự kiến sẽ tiếp tục đảm nhiệm việc sản xuất các giải thưởng khác cho Viện Hàn lâm, cũng như nhận bảo dưỡng và mạ lại cho những tượng Oscar cũ bị bong tróc.[32]

Tên gọi

[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn gốc biệt danh của chiếc cúp vinh quang này từng tốn không ít giấy mực trong giới điện ảnh, khi có nhiều người cùng nhận mình là tác giả khai sinh ra cái tên "Oscar".

Margaret Herrick, thủ thư kiêm Chủ tịch Viện Hàn lâm, được cho là người đã đặt tên cho bức tượng theo tên một người chú (giả định) tên Oscar của bà vào năm 1931. Bằng chứng xác thực duy nhất cho giả thuyết này là một mẩu báo cắt từ tờ Los Angeles Examiner xuất bản năm 1938, ghi lại lời Herrick kể về câu chuyện vợ chồng bà thường đùa vui với nhau bằng câu: "Ông chú Oscar của dạo này thế nào rồi?".[33]

Về phần mình, nữ minh tinh Bette Davis trong cuốn tự truyện xuất bản năm 1962 lại khẳng định chính bà đã đặt tên cho giải thưởng này vào năm 1936 theo tên người chồng đầu tiên - Harmon Oscar Nelson, vì phần lưng của bức tượng gợi cho bà nhớ đến ông.[33][34] Tuy nhiên, thuật ngữ này trên thực tế đã xuất hiện và được sử dụng ít nhất hai năm trước đó. Trong cuốn tiểu sử ra mắt năm 1974 do Whitney Stine chắp bút cùng các lời bình từ chính Davis, nữ diễn viên đã viết: "Tôi xin từ bỏ hoàn toàn mọi tuyên bố rằng mình là người đã đặt tên cho nó - vậy nên, gửi Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh, vinh quang này hoàn toàn thuộc về các bạn."[33][35]

Trong cuốn hồi ký xuất bản năm 1970, nhà báo Sidney Skolsky kể lại rằng ông đã tự nghĩ ra thuật ngữ này vào năm 1934 dưới áp lực của hạn nộp bài, như một cách giễu nhại các danh hài kịch Tạp kỹ (Vaudeville) vốn thường hỏi câu: "Dùng một điếu xì-gà nhé, Oscar?". Viện Hàn lâm ghi nhận Skolsky là người có "lần đầu tiên đề cập đến từ Oscar trên báo chí được xác nhận" trong một bài viết xuất bản ngày 16 tháng 3 năm 1934, bàn về lễ trao giải Oscar lần thứ 6 diễn ra năm đó.[36] Tuy nhiên, trong chính mẩu báo mà Skolsky dẫn lại, ông từng viết "những bức tượng này được gọi là 'Oscar'", điều đó đồng nghĩa với việc tên gọi này vốn đã được sử dụng rộng rãi từ trước.[33]

Vào năm 2021, nhà nghiên cứu người Brazil Waldemar Dalenogare Neto đã phủ nhận tuyên bố của Skolsky về việc là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ này. Ông đã tìm thấy lần đề cập công khai nhiều khả năng là sớm nhất của cái tên Oscar trong cột báo Cinematters của nhà báo Relman Morin, đăng trên tờ Los Angeles Evening Record ngày 5 tháng 12 năm 1933. Do giải thưởng không được tổ chức vào năm đó, tác giả bài báo đã viết: "Chuyện gì đã xảy ra với bữa tiệc thường niên của Viện Hàn lâm vậy? Theo thông lệ, tiệc mừng và lễ trao giải Oscar - bức tượng đồng vinh danh những màn trình diễn xuất sắc nhất - đều đã hoàn tất từ lâu trước thời điểm này."[37]

Bruce Davis, cựu Giám đốc Điều hành của Viện Hàn lâm, lại ghi nhận Eleanore Lilleberg - nữ thư ký làm việc tại Viện vào thời điểm giải thưởng mới ra đời - là người đã khai sinh ra biệt danh này. Bà là người trực tiếp giám sát khâu quản lý các bức tượng trước thềm lễ trao giải. Lý do Davis khẳng định như vậy là bởi ông đã tìm thấy một chi tiết trong cuốn tự truyện của Einar Lilleberg (anh trai của Eleanore): Einar có nhắc đến một cựu chiến binh người Na Uy tên Oscar mà cả hai từng quen biết ở Chicago, người luôn được ông miêu tả là có dáng đứng luôn thẳng tắp và kiêu hãnh.[33][38] Từ đó, Davis khẳng định công lao này "gần như chắc chắn phải thuộc về" Lilleberg.[38]

Khắc tên

[sửa | sửa mã nguồn]

Nhằm ngăn chặn nguy cơ rò rỉ thông tin người chiến thắng trước giờ G, các bức tượng Oscar được trao trực tiếp trên sân khấu đều mang phần đế trống. Cho đến trước năm 2010, những người đăng quang phải gửi lại tượng cho Viện Hàn lâm và chờ đợi nhiều tuần liền để tên mình được khắc lên đó. Kể từ năm 2010, các chủ nhân tượng vàng đã có thể chọn gắn tấm bảng tên khắc sẵn ngay tại trạm xử lý ở tiệc Governors Ball, buổi dạ tiệc được tổ chức ngay sau khi lễ trao giải khép lại. Trước khi sự kiện diễn ra, công ty R.S. Owens đã cho sản xuất sẵn toàn bộ các tấm bảng tên cho từng ứng viên có tên trong danh sách đề cử. Những tấm bảng tên của các ứng viên không giành chiến thắng sau đó sẽ được đem đi tái chế.[39][40]

Quyền sở hữu tượng vàng Oscar

[sửa | sửa mã nguồn]

Trước năm 1950, các bức tượng Oscar hoàn toàn thuộc quyền sở hữu cá nhân của người nhận giải, cả ở thời điểm trao lẫn về sau này.[41] Tuy nhiên kể từ năm 1950, tượng vàng đã bị ràng buộc về mặt pháp lý bởi quy định: nếu muốn bán lại, chủ nhân phải ưu tiên chào bán cho Viện Hàn lâm trước tiên với giá tượng trưng là 1 USD. Nếu người chiến thắng từ chối cam kết điều khoản này, Viện Hàn lâm sẽ giữ lại bức tượng. Những tượng Oscar ra đời trước thời điểm thỏa thuận này có hiệu lực từng được giao dịch trong các buổi đấu giá công khai lẫn các thương vụ riêng tư với mức giá lên tới hàng trăm nghìn USD.[42]

Vào năm 1989, cháu nội của nhà sản xuất Michael Todd đã tìm cách bán lại tượng Oscar hạng mục Phim hay nhất năm 1956 (cho bộ phim Around the World in 80 Days) cho một nhà sưu tập đạo cụ điện ảnh. Viện Hàn lâm ngay lập tức đã thực thi hiệu lực hợp đồng sở hữu bằng cách xin thành công lệnh cấm vĩnh viễn đối với thương vụ mua bán này.[41]

Vào năm 1992, Harold Russell đã ký gửi đấu giá bức tượng Oscar cho hạng mục Nam diễn viên phụ xuất sắc nhất năm 1946 (phim The Best Years of Our Lives) nhằm trang trải chi phí y tế cho vợ. Dù quyết định của ông gây ra nhiều tranh cãi, bức tượng Oscar đầu tiên trong lịch sử bị đem bán vẫn được sang tay cho một nhà sưu tập tư nhân vào ngày 6 tháng 8 năm 1992 với giá 60.500 USD (tương đương khoảng 135.560 USD tính theo tỷ giá năm 2022). Russell đã tự bảo vệ quan điểm của mình: "Tôi không hiểu sao mọi người lại chỉ trích. Sức khỏe của vợ tôi quan trọng hơn nhiều so với những lý do cảm tính. Bộ phim vẫn sẽ còn mãi ở đó, ngay cả khi tượng Oscar không còn."[43]

Đến tháng 12 năm 2011, bức tượng Oscar năm 1941 của Orson Welles dành cho Kịch bản gốc xuất sắc nhất (phim Citizen Kane) đã được đưa ra đấu giá, sau khi các thừa kế của ông thắng kiện vào năm 2004 với lập luận rằng Welles chưa từng ký bất kỳ thỏa thuận nào về việc trả lại bức tượng cho Viện Hàn lâm.[44] Ngày 20 tháng 12 năm 2011, bức tượng được bán thành công trong một phiên đấu giá trực tuyến với mức giá 861.542 USD (~1,2 triệu USD tính theo tỷ giá năm 2022).[45]

Sau đó, một số người mua đã chủ động trao trả lại các bức tượng vàng cho Viện Hàn lâm để lưu giữ trong kho lưu trữ của tổ chức này.[42]

Điều kiện đề cử và quá trình bầu chọn

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong giai đoạn từ năm 2004 đến 2020, kết quả đề cử giải Oscar thường được công bố rộng rãi tới công chúng vào giữa tháng 1. Trước thời điểm đó, danh sách này vốn được xướng tên vào đầu tháng 2. Đến năm 2021, các ứng viên đề cử mới được công bố muộn hơn vào tháng 3. Sang năm 2022, thời điểm công bố đề cử đã quay trở lại mốc đầu tháng 2 - lần đầu tiên sau gần hai thập kỷ kể từ mùa giải 2003.

Hội đồng bình chọn

[sửa | sửa mã nguồn]

Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh (AMPAS) quy tụ 9.905 thành viên có quyền biểu quyết tính đến năm 2024.[46][47]

Hội viên Viện Hàn lâm được phân chia theo các nhánh ngành nghề, trong đó mỗi nhánh đại diện cho một lĩnh vực chuyên môn riêng biệt trong quy trình sản xuất phim. Tính đến năm 2024, các diễn viên tạo thành khối cử tri lớn nhất với 1.258 người (chiếm 12,7% tổng số cử tri có quyền biểu quyết).[47] Kết quả kiểm phiếu được xác thực bởi công ty kiểm toán PricewaterhouseCoopers, (cùng đơn vị tiền thân là Price Waterhouse) liên tục kể từ kỳ Oscar thứ 7 diễn ra vào năm 1935.[48][49][50] Vào tháng 5 năm 2011, Viện Hàn lâm đã gửi thư thông báo tới khoảng 6.000 thành viên có quyền biểu quyết khi đó về kế hoạch triển khai hệ thống bỏ phiếu trực tuyến cho giải Oscar từ năm 2013, chính thức thay thế cho hình thức gửi phiếu bầu qua đường bưu điện.[51]

Tất cả các thành viên Viện Hàn lâm đều phải nhận được lời mời gia nhập từ Hội đồng Thống đốc, thay mặt cho Ủy ban Điều hành các Nhánh thuộc Viện. Tư cách hội viên có thể đạt được thông qua việc nhận một đề cử tranh giải chính thức, hoặc do một hội viên hiện tại đề xuất dựa trên những đóng góp nổi bật khác cho nền điện ảnh.

Các đề xuất kết nạp thành viên mới được xem xét theo chu kỳ hằng năm. Viện Hàn lâm không công khai danh sách hội viên trọn vẹn của mình, dù cho đến năm 2007, các thông cáo báo chí vẫn công bố danh tính của những nhân tố được gửi lời mời gia nhập.[52]

Vào năm 2012, tờ Los Angeles Times đã công bố kết quả một nghiên cứu phân tích cơ cấu nhân khẩu học của khoảng 88% thành viên có quyền biểu quyết thuộc Viện Hàn lâm. Trong số hơn 5.100 cử tri đang hoạt động được xác minh, có tới 94% là người da trắng, 77% là nam giới và 54% ở độ tuổi trên 60. Khoảng 33% cử tri biểu quyết là các cá nhân từng nhận đề cử (14%) hoặc từng chiến thắng giải thưởng (19%).[53] Đến năm 2016, Viện Hàn lâm đã phát động một chiến lược nhằm mở rộng quy mô hội viên và gia tăng tính đa dạng. Tính đến năm 2024, tổng số thành viên có quyền biểu quyết đã đạt mốc 9.905 người.[47]

Sang năm 2025, một quy định mới được công bố yêu cầu các thành viên Viện Hàn lâm bắt buộc phải xem toàn bộ các bộ phim được đề cử trong một hạng mục thì mới đủ điều kiện bỏ phiếu ở vòng chung kết của hạng mục đó. Quy trình xác minh sẽ được thực hiện thông qua nền tảng phát trực tuyến nội bộ dành riêng cho hội viên, kết hợp với việc nộp biểu mẫu xác nhận đối với những phim được thưởng thức trực tiếp tại các sự kiện như liên hoan phim, buổi chiếu đặc biệt hoặc các buổi chiếu nội bộ.[54]

Quy định

[sửa | sửa mã nguồn]

Căn cứ theo Điều 2 và Điều 3 trong Quy chế chính thức của Giải thưởng Viện Hàn lâm, một tác phẩm điện ảnh phải được khởi chiếu trong năm lịch trước đó, tính từ nửa đêm bắt đầu ngày 1 tháng 1 đến nửa đêm kết thúc ngày 31 tháng 12, tại hạt Los Angeles, bang California, và phải công chiếu liên tục trong ít nhất bảy ngày để đủ điều kiện dự giải (ngoại trừ các hạng mục Phim quốc tế xuất sắc nhất, Phim tài liệu xuất sắc nhất và các giải thưởng dành cho phim ngắn). Trong đợt chiếu đủ điều kiện này, bộ phim phải được trình chiếu tối thiểu ba suất mỗi ngày, trong đó có ít nhất một suất chiếu khởi chiếu trong khung giờ từ 18 giờ đến 22 giờ theo giờ địa phương.[55][56]

Ví dụ, tác phẩm đoạt giải Phim hay nhất năm 2009 là The Hurt Locker, vốn ra mắt lần đầu vào năm 2008, nhưng không đủ điều kiện tranh giải mùa giải 2008 do chưa thực hiện đợt chiếu đủ điều kiện tại Los Angeles cho đến giữa năm 2009, nhờ đó mới chính thức đủ điều kiện xét giải cho mùa giải 2009. Đối với các phim nước ngoài, tác phẩm bắt buộc phải có phụ đề tiếng Anh. Bên cạnh đó, mỗi quốc gia chỉ được phép gửi duy nhất một đại diện tham dự ở hạng mục Phim quốc tế xuất sắc nhất cho mỗi mùa giải.[57]

Quy định số 2 nêu rõ một tác phẩm điện ảnh phải có độ dài chuẩn của phim điện ảnh chiếu rạp, được định nghĩa là có thời lượng tối thiểu 40 phút, ngoại trừ các giải thưởng dành cho phim ngắn. Bộ phim phải được định dạng dưới dạng bản in phim 35 mm hoặc 70 mm, hoặc định dạng điện ảnh kỹ thuật số quét cuốn chiếu (progressive scan) với tốc độ 24 khung hình/giây hoặc 48 khung hình/giây, cùng độ phân giải máy chiếu tối thiểu là 2.048 x 1.080 pixel.[58] Kể từ kỳ Oscar thứ 90 (2018), các bộ phim nhiều tập và phim truyền hình giới hạn (limited series) chính thức không còn đủ điều kiện tranh giải ở hạng mục Phim tài liệu xuất sắc nhất. Thay đổi này xuất phát từ chiến thắng năm 2017 của O.J.: Made in America, một tác phẩm kéo dài tám tiếng được chiếu rạp giới hạn trước khi phát sóng làm năm phần trên các kênh ABCESPN. Dù vậy, thông báo về quy định mới của Viện Hàn lâm không đề cập trực tiếp đến bộ phim này.[59]

Hạng mục Phim quốc tế xuất sắc nhất không bắt buộc tác phẩm phải được phát hành thương mại tại Mỹ, nhưng yêu cầu bộ phim phải được chọn làm đại diện chính thức do quốc gia sở hữu gửi đi tranh giải.

Trong khi đó, hạng mục Phim tài liệu xuất sắc nhất đòi hỏi bộ phim phải đáp ứng một trong các điều kiện: được công chiếu kéo dài một tuần tại cả Los Angeles County lẫn bất kỳ quận nào trong số năm quận của Thành phố New York trong năm lịch trước đó;[a] đạt giải thưởng đủ điều kiện tại một liên hoan phim tranh giải thuộc Danh sách Liên hoan phim tính điểm xét duyệt Phim tài liệu (bất kể phim đã được trình chiếu hay phát hành công khai hay chưa); hoặc được chọn làm đại diện chính thức của một quốc gia gửi tranh giải ở hạng mục Phim quốc tế xuất sắc nhất. Các đợt chiếu rạp đủ điều kiện phải tuân thủ cùng quy định về số lượng và khung giờ chiếu tương tự như các phim điện ảnh thông thường. Ngoài ra, bộ phim bắt buộc phải nhận được bài đánh giá chuyên môn từ nhà bình luận của một trong các trang báo: The New York Times, Time Out New York, Los Angeles Times hoặc LA Weekly.[61]

Các nhà sản xuất bắt buộc phải nộp Official Screen Credits trực tuyến trước thời hạn quy định. Nếu không nộp đúng hạn, bộ phim sẽ vĩnh viễn mất quyền tham dự giải Oscar vào bất kỳ năm nào. Biểu mẫu này bao gồm danh sách đóng góp của ê-kíp sản xuất cho tất cả các hạng mục có liên quan.

Các giải thưởng thuộc nhóm phim ngắn (Phim tài liệu ngắn xuất sắc nhất, Phim hoạt hình ngắn xuất sắc nhấtPhim ngắn live-action xuất sắc nhất) áp dụng các quy định xét duyệt điều kiện khác với hầu hết các hạng mục tranh giải còn lại. Thứ nhất, thời gian phát hành đủ điều kiện không trùng với năm lịch, mà kéo dài tròn một năm tính từ ngày 1 tháng 10 năm trước đến ngày 30 tháng 9 của năm lịch ngay trước kỳ trao giải. Thứ hai, có nhiều phương thức khác nhau để đạt điều kiện dự giải. Phương thức chính là có đợt công chiếu rạp kéo dài một tuần tại Thành phố New York hoặc Los Angeles trong thời gian xét duyệt. Ngoài ra, tác phẩm cũng có thể đủ điều kiện nếu giành được các giải thưởng quy định tại một trong những liên hoan phim tranh giải nằm trong danh sách do Viện Hàn lâm chỉ định, bất kể phim đã từng được phát hành rộng rãi trước đó hay chưa.[61][62]

Một bộ phim đạt giải vàng, bạc hoặc đồng ở hạng mục tương ứng tại Giải thưởng Viện Hàn lâm Sinh viên diễn ra ngay trước đó cũng đủ điều kiện tham dự (hạng mục Phim tài liệu cho giải Phim tài liệu ngắn, và Animation, Narrative, Alternative hoặc International cho các giải phim ngắn còn lại). Yêu cầu đối với đợt chiếu rạp đủ điều kiện của nhóm phim này cũng có sự khác biệt so với các hạng mục khác: bộ phim chỉ cần khởi chiếu tối thiểu một suất mỗi ngày. Đối với giải Phim tài liệu ngắn, suất chiếu bắt buộc phải bắt đầu trong khoảng từ 12 giờ trưa đến 22 giờ theo giờ địa phương. Với các giải còn lại, quy định không bắt buộc khung giờ khởi chiếu cụ thể, nhưng bộ phim phải có tên trong danh sách lịch chiếu chính thức của rạp kèm theo ngày và giờ chiếu rõ ràng.[61][62]

Vào cuối tháng 12, phiếu bầu cùng danh sách các bộ phim đủ điều kiện sẽ được gửi tới toàn bộ hội viên. Đối với hầu hết các hạng mục, thành viên thuộc từng nhánh nghề nghiệp chỉ bỏ phiếu để chọn ra các đề cử trong chính lĩnh vực chuyên môn của mình (ví dụ: chỉ đạo diễn mới bầu cho đạo diễn, biên kịch bầu cho biên kịch, diễn viên bầu cho diễn viên,...). Trường hợp ngoại lệ duy nhất là hạng mục Phim hay nhất, nơi toàn bộ cử tri có quyền biểu quyết đều được tham gia chọn đề cử. Một số nhánh chỉ đủ điều kiện bỏ phiếu ở hạng mục Phim hay nhất trong vòng đề cử; bao gồm nhánh nhà sản xuất (do giải Phim hay nhất được trao cho các nhà sản xuất của phim) và các nhánh nghề nghiệp không có hạng mục giải thưởng tương ứng.[63] Ở tất cả các hạng mục chính, hệ thống áp dụng một biến thể của phương thức phiếu bầu chuyển nhượng đơn (single transferable vote): mỗi cử tri sẽ lập một danh sách phiếu bầu xếp hạng ưu tiên tối đa 5 đề cử (riêng hạng mục Phim hay nhất là 10 đề cử).[64][65][66] Đối với một số hạng mục đặc thù như Phim quốc tế xuất sắc nhất, Phim tài liệuPhim hoạt hình dài, các ứng viên đề cử sẽ do các hội đồng thẩm định chiếu phim đặc biệt, bao gồm thành viên hội tụ từ tất cả các nhánh, tuyển chọn.

Ở hầu hết các hạng mục, người chiến thắng được lựa chọn từ danh sách đề cử theo phương thức bỏ phiếu đa số tương đối (plurality voting) với sự tham gia của toàn bộ hội viên.[64][66] Kể từ năm 2009, tác phẩm đoạt giải Phim hay nhất được quyết định thông qua phương thức bỏ phiếu bãi bỏ dần/dồn phiếu nhiều vòng (instant-runoff voting).[66][67] Từ năm 2013, phương thức tính điểm tầm khoảng tái trọng số (re-weighted range voting) đã được áp dụng để tuyển chọn các ứng viên đề cử cho hạng mục Hiệu ứng hình ảnh xuất sắc nhất.[68]

Các hãng phim sẵn sàng chi đến vài triệu USD cho các chiến dịch tiếp thị nhắm vào cử tri Viện Hàn lâm nhằm tăng cơ hội tranh giải Phim hay nhất, cũng như săn tìm các giải thưởng điện ảnh khác trong suốt mùa giải Oscar. Để đẩy lùi các hành vi thái quá và giữ gìn tính tôn nghiêm cho giải thưởng, Viện Hàn lâm áp đặt nhiều quy định khắt khe nhằm hạn chế việc vận động hành lang quá đà từ phía hội viên. Họ thậm chí bổ nhiệm một "trưởng ban quản lý giải thưởng" (awards czar) để cố vấn cho các thành viên về những quy chuẩn được phép, đồng thời đưa ra hình phạt đối với các trường hợp vi phạm.[69] Đơn cử như trường hợp của một nhà sản xuất bộ phim The Hurt Locker (được đề cử Phim hay nhất năm 2009): ông đã bị tước tư cách nhà sản xuất ở hạng mục này sau khi tự ý liên lạc với các đồng nghiệp để vận động họ bầu chọn cho phim của mình thay vì một ứng viên sáng giá khác. Mặc dù vậy, The Hurt Locker sau cùng vẫn giành chiến thắng chung cuộc.

Đối với kỳ trao giải Oscar lần thứ 99 (năm 2027) trở về sau, Viện Hàn lâm (AMPAS) đã công bố các quy định dự kiến về điều kiện dự giải vào ngày 1 tháng 5 năm 2026. Theo đó, các diễn viên và kịch bản do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra sẽ bị gạch tên khỏi các hạng mục Diễn xuất và Kịch bản, song trường hợp diễn viên người thật được tái tạo bằng công nghệ AI sẽ được xem xét linh hoạt theo tùy chỉnh chuyên môn. Một sự thay đổi khác giúp mở rộng phạm vi đủ điều kiện của các bộ phim quốc tế bằng cách chấp nhận các tác phẩm từng đoạt giải thưởng xét duyệt hợp lệ tại các liên hoan phim uy tín, chẳng hạn như Cành cọ Vàng (LHP Cannes), Sư tử Vàng (LHP Venice) và Giải Platform (LHP Toronto). Quy chế mới cũng cho phép một diễn viên có thể nhận nhiều hơn một đề cử trong cùng một hạng mục diễn xuất ở một mùa giải. Ngoài ra, điều khoản bổ sung đối với hạng mục Ca khúc trong phim xuất sắc nhất cũng làm rõ: để đủ điều kiện xét duyệt, ca khúc đầu tiên được vang lên như "tín hiệu âm nhạc mở màn" cho phần giới thiệu ê-kíp cuối phim (end credits) phải được phát ít nhất trong 15 giây cuối cùng của tác phẩm trước khi danh sách chạy chữ chính thức bắt đầu.[70]

Academy Screening Room

[sửa | sửa mã nguồn]

Phòng chiếu Kỹ thuật số Viện Hàn lâm là một nền tảng phát trực tuyến bảo mật, cho phép các thành viên có quyền biểu quyết của Viện Hàn lâm xem toàn bộ các bộ phim đủ điều kiện tranh giải tại một nơi duy nhất. Nền tảng này ra mắt vào năm 2019 nhằm phục vụ cho kỳ trao giải Oscar năm 2020. Ở thời điểm đó, các bản đĩa DVD gửi riêng và các buổi chiếu trực tiếp của Viện Hàn lâm vẫn được duy trì song song. Để một bộ phim được đưa lên nền tảng, nhà phát hành tại khu vực Bắc Mỹ phải trả khoản phí 12.500 USD (đã bao gồm phí thủy vân số) và cung cấp một bản sao kỹ thuật số để Viện Hàn lâm chuẩn bị dữ liệu phát trực tuyến. Thành viên có thể truy cập nền tảng này thông qua các thiết bị Apple TV và Roku.[71][72] Quy trình đóng dấu bản quyền có sự tham gia của nhiều công ty an ninh hình ảnh, giúp tạo ra dấu bản quyền pháp y và ngăn chặn triệt để việc chụp hoặc ghi màn hình.[73]

Đến năm 2021 (phục vụ cho kỳ Oscar 2022), Viện Hàn lâm đã cấm toàn bộ các bản phim vật lý cũng như hủy bỏ các buổi chiếu trực tiếp do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, qua đó bắt buộc việc xem phim chính thức của thành viên phải diễn ra hoàn toàn trên Academy Screening Room. Các bộ phim đủ điều kiện ở danh mục Phim tài liệu và Phim quốc tế được phân chia vào các mục riêng biệt trên hệ thống. Các nhà phát hành cũng có thể trả thêm phí để đăng tải các video hậu trường nhằm quảng bá cho tác phẩm của mình.[74] Mặc dù các bộ phim đủ điều kiện không bắt buộc phải tải lên nền tảng, Viện Hàn lâm vẫn sẽ gửi thông báo quảng bá đến các thành viên biểu quyết mỗi khi có phim mới được cập nhật.[75]

Lễ trao giải

[sửa | sửa mã nguồn]

Phát sóng

[sửa | sửa mã nguồn]
Lễ trao giải Oscar lần thứ 31 tại Hollywood Pantages Theatre năm 1959

Các giải thưởng chính được trao tại một lễ trao giải phát sóng trực tiếp trên truyền hình, thường diễn ra vào cuối tháng 2 hoặc đầu tháng 3 ngay sau năm lịch tương ứng, và khoảng sáu tuần sau khi danh sách đề cử được công bố. Đây là sự kiện khép lại mùa giải thưởng điện ảnh, vốn thường bắt đầu từ tháng 11 hoặc tháng 12 của năm trước đó.

Buổi lễ là một sự kiện hoành tráng và xa hoa, nơi các khách mời sải bước trên thảm đỏ trong những trang phục đến từ các nhà thiết kế thời trang danh tiếng nhất thời điểm đó. Đối với nam giới, trang phục tuxedo là quy chuẩn phổ biến nhất, dù xu hướng thời trang có thể biến tấu việc không thắt nơ, và các nghệ sĩ biểu diễn âm nhạc đôi khi không bắt buộc phải tuân thủ nghiêm ngặt quy tắc này.

Bên cạnh đó, các nghệ sĩ thể hiện các tác phẩm nằm trong danh sách đề cử giải Ca khúc trong phim hay nhất" thường sẽ trình diễn trực tiếp các bài hát đó ngay tại buổi lễ, và sự góp mặt biểu diễn của họ thường được sử dụng như một yếu tố then chốt để quảng bá cho chương trình phát sóng.

Viện Hàn lâm cũng sản xuất các bản dựng riêng của lễ trao giải để phát sóng tại thị trường quốc tế, đặc biệt là các khu vực bên ngoài châu Mỹ, nhằm phù hợp với khung giờ vàng của địa phương. Lễ trao giải lần đầu tiên được phát sóng trực tiếp quốc tế qua vệ tinh là vào năm 1970, nhưng chỉ có hai quốc gia Nam Mỹ là Chile và Brazil mua bản quyền phát sóng. Vào thời điểm đó, bản quyền truyền hình của lễ trao giải Oscar đã được bán tới 50 quốc gia. Đến năm 1980, con số này tăng lên 60 quốc gia, và tới năm 1984, bản quyền truyền hình của sự kiện đã được cấp phép tại 76 quốc gia trên toàn thế giới.

Vào năm 2004, thời điểm diễn ra lễ trao giải đã được đẩy lên sớm hơn, từ cuối tháng 3 - đầu tháng 4 chuyển sang cuối tháng 2. Sự thay đổi này nhằm phá vỡ và rút ngắn chiến dịch vận động hành lang cùng các chiến dịch quảng cáo dồn dập kéo dài suốt mùa giải Oscar trong ngành công nghiệp điện ảnh. Một lý do khác xuất phát từ sự bùng nổ tỷ lệ người xem truyền hình của giải bóng rổ nam NCAA Division I, sự kiện trùng thời điểm và có nguy cơ chia rẽ lượng khán giả theo dõi Oscar. Trước đó, vào các năm 1976 và 1977, khi đài ABC giành lại quyền phát sóng, lễ trao giải Oscar đã được dời từ thứ Ba sang thứ Hai và phải đối đầu trực tiếp với trận chung kết toàn quốc trên đài NBC. Bên cạnh đó, việc tổ chức sớm hơn cũng mang lại lợi thế lớn cho ABC, vì thời điểm này thường rơi vào đợt "sweep" tháng Hai, giai đoạn khảo sát tỷ lệ người xem quan trọng và mang lại lợi nhuận cao nhất trong năm của ngành truyền hình.[76]

Lễ trao giải Oscar lần thứ 81 tại Dolby Theatre năm 2009

Vào một số năm, lễ trao giải được dời sang chủ nhật đầu tiên của tháng 3 nhằm tránh trùng lịch với Thế vận hội Mùa đông. Một lý do khác cho việc chuyển thời điểm sang cuối tháng 2 hoặc đầu tháng 3 là để tránh lễ trao giải diễn ra quá gần các ngày lễ tôn giáo như lễ Quá Hảilễ Phục Sinh, điều từng gây ra nhiều bất bình cho cả các thành viên Viện Hàn lâm lẫn công chúng trong suốt nhiều thập kỷ.[76] Quảng cáo trong chương trình cũng chịu sự hạn chế nhất định, khi theo truyền thống, không một hãng phim nào hay đối thủ cạnh tranh của các nhà tài trợ chính thức cho giải Oscar được phép chạy quảng cáo trong suốt buổi phát sóng. Tính đến năm 2020, khâu sản xuất chương trình phát sóng lễ trao giải Oscar vẫn nắm giữ kỷ lục là một trong những chương trình thắng nhiều giải Emmy nhất trong lịch sử, với tổng cộng 54 giải thưởng và 280 đề cử.[77]

Sau nhiều năm liên tục được tổ chức vào thứ Hai lúc 18:00 (giờ Thái Bình Dương) / 21:00 (giờ Miền Đông), lễ trao giải đã được dời sang chủ nhật lúc 17:30 PT/20:30 ET kể từ kỳ trao giải năm 1999.[78] Những lý do đưa ra cho sự thay đổi này là nhằm thu hút lượng người xem đông đảo hơn vào ngày chủ nhật, tránh tình trạng tắc đường vào giờ cao điểm ở Los Angeles, đồng thời việc khai mạc sớm hơn sẽ giúp buổi lễ không bị kéo dài quá muộn về đêm ở bờ Đông.[79] Trong suốt nhiều năm trước đó, ngành công nghiệp điện ảnh từng liên tục phản đối việc phát sóng vào chủ nhật vì lo ngại điều này sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến doanh thu phòng vé cuối tuần.[80]

Vào năm 2010, Viện Hàn lâm từng cân nhắc đẩy thời điểm diễn ra lễ trao giải lên sớm hơn nữa vào tháng 1, với lý do khán giả truyền hình đã mệt mỏi với mùa giải thưởng kéo dài của ngành điện ảnh. Tuy nhiên, một lịch trình dồn dập như vậy sẽ làm rút ngắn đáng kể thời gian bình chọn của các thành viên, tới mức một số cử tri chỉ kịp xem các bộ phim tranh giải qua hình thức phát trực tuyến trên máy tính, thay vì nhận đĩa phim và phiếu bầu qua đường bưu điện như truyền thống. Bên cạnh đó, việc tổ chức buổi lễ vào một ngày chủ nhật trong tháng 1 sẽ đụng độ trực tiếp với các trận đấu vòng play-off của Giải Bóng đá Mỹ.[81] Đến năm 2018, Viện Hàn lâm thông báo lịch trao giải sẽ được chuyển từ cuối tháng 2 sang giữa tháng 2, bắt đầu áp dụng kể từ kỳ lễ trao giải Oscar lần thứ 92 vào năm 2020.[82] Sang năm 2024, lễ trao giải tiếp tục được đẩy giờ khai mạc lên sớm hơn nữa, cụ thể vào lúc 16:00 PT/19:00 ET, nhằm cải thiện lượng người xem tại khu vực bờ Đông bằng cách kết thúc sự kiện ngay trong khung giờ vàng.[83] Sự thay đổi này cũng giúp đài ABC có thể phát sóng thêm 30 phút chương trình khung giờ vàng ngay sau buổi lễ vào lúc 19:30 PT/22:30 ET, thay vì phải xếp vào khung giờ muộn ban đêm sau các bản tin thời sự địa phương như trước đây.[84][85][86]

Ban đầu được lên lịch tổ chức vào ngày 8 tháng 4 năm 1968, lễ trao giải Oscar lần thứ 40 đã phải hoãn lại hai ngày do vụ ám sát Tiến sĩ Martin Luther King, Jr. Đến ngày 30 tháng 3 năm 1981, lễ trao giải Oscar lần thứ 53 tiếp tục bị hoãn lại một ngày sau vụ ám sát không thành nhắm vào Tổng thống Ronald Reagan cùng những người khác tại Washington, D.C.[87]

Vào năm 1993, phân đoạn tưởng niệm In Memoriam lần đầu tiên được đưa vào chương trình,[88] nhằm tôn vinh những cá nhân có đóng góp quan trọng cho nền điện ảnh đã qua đời trong 12 tháng trước đó, với danh sách do một ủy ban nhỏ gồm các thành viên Viện Hàn lâm lựa chọn.[89] Qua nhiều năm, phân đoạn này đã vấp phải không ít chỉ trích vì bỏ sót một số tên tuổi lớn. Một khía cạnh khác cũng gánh chịu nhiều phàn nàn trong một thời gian dài là cảm giác phân đoạn này giống như một "cuộc thi độ phổ biến", khi mức độ tràng pháo tay của khán giả dành cho mỗi người quá cố lại chênh lệch tùy thuộc vào tầm ảnh hưởng văn hóa của họ. Về sau, tiếng pháo tay đã được cắt âm trên sóng truyền hình, đồng thời khán giả tại khán phòng cũng được khuyến cáo không vỗ tay trong suốt thời lượng tưởng niệm để dành không gian cho sự lặng lẽ tưởng nhớ. Ngay sau khi phân đoạn này kết thúc thường là một khoảng thời gian dành cho quảng cáo.

Xét về thời lượng phát sóng, lễ trao giải thường kéo dài trung bình khoảng ba tiếng rưỡi. Kỳ Oscar đầu tiên vào năm 1929 chỉ diễn ra vỏn vẹn trong 15 phút. Ở chiều ngược lại, lễ trao giải năm 2002 đã lập kỷ lục về độ dài khi kéo dài tới bốn tiếng 23 phút.[90][91] Vào năm 2010, ban tổ chức giải Oscar đã đưa ra quy định yêu cầu bài phát biểu nhận giải của những người chiến thắng không được vượt quá 45 giây. Theo nhà tổ chức Bill Mechanic, điều này nhằm loại bỏ triệt để yếu tố mà ông gọi là "thứ bị ghét nhất trong toàn bộ chương trình", đó là những màn bộc lộ cảm xúc quá dài dòng và gây ngượng ngùng.[92] Đến năm 2016, như một nỗ lực tiếp theo nhằm tinh giản các bài phát biểu, lời cảm ơn và tri ân của người thắng giải đã được chuyển sang hiển thị dưới dạng dòng chữ chạy ở chân màn hình.[93]

Trong kỳ trao giải năm 2018, người dẫn chương trình Jimmy Kimmel đã thừa nhận độ dài lê thê của buổi lễ bằng cách tuyên bố sẽ tặng một chiếc mô tô nước mới tinh cho người có bài phát biểu ngắn nhất trong đêm. Phần thưởng này sau đó đã thuộc về Mark Bridges khi ông lên nhận giải Thiết kế trang phục xuất sắc nhất cho bộ phim Bóng ma sợi chỉ.[94] Tờ The Wall Street Journal đã phân tích thời lượng trung bình dành cho các phần trong các buổi phát sóng giai đoạn 2014-2018 bao gồm 14 phút dành cho màn trình diễn các ca khúc, 25 phút cho các bài phát biểu của người dẫn chương trình, 38 phút cho các đoạn clip phát lại được chuẩn bị trước, và 78 phút dành riêng cho quá trình trao giải (trong đó được chia nhỏ thành 24 phút giới thiệu và công bố, 24 phút để người chiến thắng di chuyển lên sân khấu, cùng 30 phút cho các bài phát biểu nhận giải).[95]

Mặc dù vẫn chiếm ưu thế về mặt tỷ lệ người xem, lượng khán giả theo dõi lễ trao giải Oscar đã sụt giảm đều đặn qua các năm. Lễ trao giải Oscar lần thứ 88 từng ghi nhận mức tỷ lệ người xem thấp nhất trong vòng 8 năm trước đó (dù có sự gia tăng ở nhóm khán giả nam và độ tuổi từ 18–49), đồng thời bản thân chương trình cũng nhận về những phản hồi trái chiều. Sau sự kiện, tạp chí Variety đưa ra báo cáo rằng đài ABC, trong quá trình đàm phán gia hạn hợp đồng phát sóng giải Oscar, đã tìm cách giành thêm quyền kiểm soát sáng tạo đối với chính buổi phát sóng. Trên danh nghĩa lẫn thực tế vào thời điểm đó, AMPAS chịu trách nhiệm cho hầu hết các khía cạnh của buổi phát sóng truyền hình, bao gồm cả việc lựa chọn đội ngũ sản xuất lẫn người dẫn chương trình, dù ABC vẫn được phép đóng góp ý kiến cho các quyết định này.[96] Đến tháng 8 năm 2016, AMPAS đã gia hạn hợp đồng với ABC cho đến năm 2028, song bản hợp đồng này không chứa đựng bất kỳ thay đổi đáng chú ý nào và cũng không trao thêm cho ABC bất kỳ quyền kiểm soát sáng tạo nào đối với chương trình.[97]

Lễ trao giải Oscar lần thứ 95 được tổ chức tại Nhà hát DolbyLos Angeles vào năm 2023.

Vào ngày 17 tháng 12 năm 2025, Viện Hàn lâm thông báo YouTube đã giành được bản quyền phát sóng lễ trao giải Oscar bắt đầu từ kỳ trao giải lần thứ 101 vào năm 2029, thay thế đài ABC theo một hợp đồng có hiệu lực kéo dài đến năm 2033. YouTube sẽ đảm nhận vai trò là đơn vị phát sóng độc quyền trên toàn cầu cho buổi lễ, đồng thời kênh YouTube chính thức của Oscar cũng sẽ đăng tải các sự kiện và nội dung phụ trợ khác do AMPAS sản xuất, bao gồm các buổi lễ, các cuộc phỏng vấn cùng nhiều nội dung kỹ thuật số khác. Bên cạnh đó, Viện Hàn lâm cũng sẽ hợp tác với chương trình Google Arts & Culture nhằm hỗ trợ số hóa một phần Bảo tàng Điện ảnh Viện Hàn lâm cũng như bộ sưu tập lưu trữ của tổ chức này.[98][99]

Địa điểm tổ chức

[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ trao giải đầu tiên của AMPAS diễn ra tại khách sạn Roosevelt ở Hollywood. Trong thập niên 1930 và đầu thập niên 1940, các buổi lễ được tổ chức tại khách sạn The Ambassador Hotel hoặc Millennium Biltmore Hotel ở Los Angeles.

Từ năm 1944 đến năm 1946, Nhà hát Trung Hoa Grauman ở Hollywood là nơi tổ chức lễ trao giải trước khi nó dời về thính phòng Shrine Auditorium cho đến năm 1948. Lễ trao giải lần thứ 21 năm 1949 diễn ra tại Nhà hát Giải thưởng Viện Hàn lâm mà sau này là trụ sở chính của AMPAS trên đại lộ Melrose ở Hollywood.[100]

Từ năm 1950 đến năm 1960, địa điểm được lựa chọn là Nhà hát Pantages. Từ năm 1961, đến lượt thính phòng Santa Monica Civic AuditoriumSanta Monica, California được tổ chức lễ trao giải Oscar. Năm 1968, một lần nữa lễ trao giải trở về Los Angeles, lần này là tại rạp Dorothy Chandler Pavilion nằm trong Trung tâm Âm nhạc Los Angeles. Rạp The Dorothy Chandler Pavilion là nơi tổ chức 20 đêm trao giải liên tiếp cho đến tận năm 1988, sau đó giải Oscar lại được trao luân phiên ở Trung tâm Âm nhạc và thính phòng Shrine Auditorium. Kể từ năm 2002, Nhà hát Kodak (từ năm 2012 đổi tên là Trung tâm Hollywood và Highland, sau đó là Nhà hát Dolby) của Hollywood trở thành địa điểm tổ chức lâu dài đầu tiên của giải thưởng.

Số lượng người xem

[sửa | sửa mã nguồn]

Về mặt lịch sử, giải Oscar đã thu hút được một số lượng lớn người xem khi các bom tấn của phòng vé được ưa chuộng để tranh danh hiệu Giải Oscar cho Phim xuất sắc nhất. Hơn 57,25 triệu người xem đã theo dõi chương trình truyền hình cho Giải thưởng Học viện 70 năm 1998, năm Titanic thu được gần 600 triệu đô la Mỹ tại các phòng vé trước giải Oscar ở Bắc Mỹ. Lễ trao giải Academy Awards lần thứ 76, trong đó The Lord of the Rings: Sự trở lại của nhà vua (thu được 368 triệu đô la Mỹ) nhận được 11 giải thưởng bao gồm giải cho phim xuất sắc nhất đã thu hút được 43.56 triệu người xem. Tuy nhiên, lễ trao giải được đánh giá cao nhất dựa trên xếp hạng của Nielsen cho đến nay là giải thưởng của Viện Hàn lâm lần thứ 42 với rating 43,4% vào ngày 7 tháng 4 năm 1970.

Ngược lại, các buổi lễ tôn vinh các bộ phim không đạt được nhiều thành công tại các phòng vé có xu hướng tỉ lệ người xem thấp hơn. Giải thưởng Viện Hàn lâm lần thứ 78, phim Crash (với tổng doanh thu trước giải Oscar là 53,4 triệu USD) với 38,64 triệu khán giả, tỉ lệ ấy tương đương 22,91%, thấp hơn so với giải Oscar 2 năm trước đó. Trong năm 2008, giải thưởng Giải thưởng Viện hàn lâm lần thứ 80 được theo dõi bởi 31,76 triệu người xem với tỷ suất người xem 18,66%, được đánh giá là lễ trao giải được xem là tỉ lệ thấp nhất cho đến nay, mặc dù đây là buổi lễ 80 năm giải thưởng của Học viện.

Mặc dù vẫn chiếm ưu thế trong xếp hạng, lượng người xem của giải đã giảm dần qua từng năm. Sau buổi trình chiếu, Variety khuyến khích ABC đàm phán mở rộng hợp đồng với AMPAS để tìm kiếm ra sự sáng tạo hơn đối với chương trình. Hiện tại, AMPAS chịu trách nhiệm về hầu hết các phần của chương trình, bao gồm cả việc lựa chọn nhân viên sản xuất và ABC được phép có một số ý kiến về quyết định của họ.

Danh sách giải thưởng

[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng cho đóng góp xuất sắc

[sửa | sửa mã nguồn]

Các hạng mục hiện hành

[sửa | sửa mã nguồn]

Hạng mục đã ngừng trao

[sửa | sửa mã nguồn]

Trong năm đầu tiên, giải Oscar đạo diễn xuất sắc nhất được chia thành hai thể loại phim chính kịch và phim hài kịch. Trong một thời gian dài, giải Oscar âm thanh cũng được chia làm hai thể loại chính kịch và hài kịch phim ca nhạc. Hiện nay chỉ có duy nhất một giải Oscar cho âm thanh. Từ thập niên 1930 đến thập niên 1960, các giải Oscar về quay phim, chỉ đạo nghệ thuật và thiết kế trang phục được chia thành hai thể loại cho phim trắng đen và phim màu.

Hạng mục được đề nghị

[sửa | sửa mã nguồn]

Hàng năm Hội đồng quản trị của AMPAS đều họp lại để xem xét các đề nghị về hạng mục giải Oscar mới. Cho đến nay những hạng mục sau vẫn bị từ chối đưa vào danh sách giải thưởng chính thức:

  • Đóng thế xuất sắc nhất (Best Stunt Coordination): từ chối mỗi năm từ 1991 đến 2012
  • Tên phim hay nhất (Best Title Design): từ chối năm 1999

Giải thưởng đặc biệt

[sửa | sửa mã nguồn]

Các giải này được bầu chọn bởi những ủy ban đặc biệt chứ không phải toàn bộ thành viên Viện Hàn lâm. Họ luôn luôn không được giới thiệu trong lễ trao giải

Hạng mục hiện hành

[sửa | sửa mã nguồn]

Hạng mục đã ngừng trao

[sửa | sửa mã nguồn]

Quà tặng

[sửa | sửa mã nguồn]

Đây đã trở thành một truyền thống, những món quà được tặng cho các diễn giả và người biểu diễn tại Oscar sau buổi lễ. Trong những năm gần đây, những món quà này cũng đã được mở rộng để trao cho những ứng cử viên và người chiến thắng. Giá trị của mỗi túi quà tặng này có thể lên đến hàng chục nghìn đô la. Vào năm 2014, giá trị được báo cáo lên đến 80.000 USD. Giá trị món quà đã tăng lên đến mức Dịch vụ Doanh thu Nội địa Hoa Kỳ đã ban hành một điều luật về quà tặng và khả năng đánh thuế họ. Các món quà tặng của Oscar bao gồm gói du lịch đến Hawaii, Mexico và Nhật Bản, bữa tiệc riêng cho người được nhận và bạn bè tại nhà hàng, điện thoại video, bốn đêm ở khách sạn sang trọng, đồng hồ, vòng tay, spa, rượu vodka, và kẹo giảm cân.

Lượng người theo dõi và tiền quảng cáo

[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 2006 trở đi, thông tin về lượng người xem và tiền quảng cáo sẽ được cập nhật.

Năm Lượng người xem

(triệu người)

Tiền quảng cáo

(triệu USD)

2023 18.7 2.1
2022 16.6 1.71
2021 10.4 1.53
2020 23.6 Không có số liệu
2019 29.6 Không có số liệu
2018 26.5 Không có số liệu
2017 32.9 Không có số liệu
2016 34.3 Không có số liệu
2015 37.26 1.95
2014 43.74 1.8 - 1.9
2013 40.376 1.65 - 1.8
2012 39.46 1.61
2011 37.919 1.3684
2010 41.699 1.1267
2009 36.31 1.3
2008 32.006 1.82
2007 40.172 1.6658
2005 38.939 1.6468
2004 43.531 1.5031
2003 33.043 1.3458
2002 41.782 1.29
2001 42.944 1.45
2000 46.333 1.305
1999 45.615 1
1998 55.249 0.95
1997 40.075 0.85
1996 44.867 0.795
1995 48.279 0.7
1994 45.083 0.6435
1993 45.735 0.6078
1992 44.406 Không có số liệu
1991 44.727 Không có số liệu
1990 40.375 0.45
1989 42.619 0.375
1988 42.227 0.36
1987 37.190 0.335
1986 37.757 0.32
1985 38.855 0.315
1984 42.051 0.275
1983 53.235 0.245
1982 46.245 Không có số liệu
1981 39.919 Không có số liệu
1980 48.878 Không có số liệu
1979 46.301 Không có số liệu
1978 48.501 Không có số liệu
1977 39.719 Không có số liệu
1976 46.751 Không có số liệu
1975 48.127 Không có số liệu
1974 44.712 Không có số liệu

Thống kê

[sửa | sửa mã nguồn]

Phim xếp theo số đề cử

[sửa | sửa mã nguồn]

Phim xếp theo số giải giành được

[sửa | sửa mã nguồn]

Phim đoạt 5 giải quan trọng

[sửa | sửa mã nguồn]
Đạo diễn: Frank Capra
Nam diễn viên chính: Clark Gable
Nữ diễn viên chính: Claudette Colbert
Kịch bản: Robert Riskin
Đạo diễn: Milos Forman
Nam diễn viên chính: Jack Nicholson
Nữ diễn viên chính: Louise Fletcher
Kịch bản: Lawrence HaubenBo Goldman
Đạo diễn: Jonathan Demme
Nam diễn viên chính: Anthony Hopkins
Nữ diễn viên chính: Jodie Foster
Kịch bản: Ted Tally

Chỉ trích

[sửa | sửa mã nguồn]

Các bộ phim

[sửa | sửa mã nguồn]

Cũng như nhiều giải thưởng danh giá khác, giải Oscar thường xuyên gặp phải chỉ trích. Những người chỉ trích cho rằng có nhiều bộ phim giành giải Phim hay nhất trong quá khứ không còn nhiều giá trị theo thời gian. Một số phim như 80 ngày vòng quanh Thế giới, Grand Hotel hay The Greatest Show on Earth thường được coi là có tuổi thọ ngắn ngủi và ít có ảnh hưởng trong lần trình chiếu ra mắt.[101][102][103] Trong khi đó một số phim khác được coi là rất xứng đáng để trao giải thì lại chưa bao giờ vươn tới được danh hiệu Phim hay nhất.[104] Ví dụ tiêu biểu nhất phải kể tới bộ phim kinh điển Công dân Kane vốn được giới phê bình ủng hộ nhiệt liệt, được đề cử tới 9 giải Oscar nhưng chỉ mang về duy nhất một giải cho Kịch bản gốc xuất sắc nhất. Sau này Công dân Kane được coi là một trong những bộ phim xuất sắc nhất trong lịch sử Điện ảnh Hoa Kỳ. Một bộ phim xuất sắc khác là The Shawshank Redemption được đề cử 7 giải Oscar nhưng thậm chí còn không giành được giải nào, mặc dù nó vẫn luôn được xếp vào hàng những bộ phim hay nhất của mọi thời đại trên trang web uy tín IMDb. Để cạnh tranh trong hạng mục danh giá nhất này, các hãng phim cũng tiến hành rất nhiều cuộc vận động hành lang, và nhiều người cho rằng đôi khi những đề cử cho hạng mục Phim hay nhất lại là kết quả của những cuộc vận động hành lang hơn là chất lượng thực sự của những bộ phim đó.[105]

Nhiều chỉ trích còn nhằm vào một sự thật là các đề cử hầu như chỉ dành cho các bộ phim nói tiếng Anh, trừ đề cử cho hạng mục Phim nói tiếng nước ngoài hay nhất. Cho đến năm 2013, mới chỉ có 9 bộ phim nói tiếng nước ngoài được đề cử cho hạng mục Phim hay nhất, đó là các phim Grand Illusion (tiếng Pháp, 1938), Z (tiếng Pháp, 1969), The Emigrants (tiếng Thụy Điển, 1972), Cries and Whispers (tiếng Thụy Điển, 1973), Il Postino (tiếng Ýtiếng Tây Ban Nha, 1995), Cuộc sống tươi đẹp (tiếng Ý, 1998), Ngọa hổ tàng long (tiếng Quan thoại, 2000), Letters from Iwo Jima (tiếng Nhật Bản, 2006) và Amour (tiếng Pháp, 2012). Cho đến thời điểm hiện tại, Ký sinh trùng là bộ phim nước ngoài duy nhất đoạt giải thưởng này.

Trong số ít các phim sản xuất tại nước ngoài giành giải Phim hay nhất, gần đây nhất có Slumdog Millionaire (AnhẤn Độ, 2008), The King's Speech (Anh, 2010) và The Artist (Pháp, 2011).

Quảng cáo thương mại

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi nhận được đề cử các bộ phim, các xưởng phim dành hàng triệu USD và thuê chuyên gia quảng cáo đặc biệt để giới thiệu cho bộ phim của mình trong thời gian được gọi là "mùa giải Oscar". Điều này đã gây ra cáo buộc Viện Hàn lâm bị ảnh hưởng bởi tiếp thị nhiều hơn là chất lượng phim. William Friedkin, đạo diễn bộ phim từng đoạt giải Oscar và là cựu nhà sản xuất của buổi lễ, đã phát biểu tại một hội nghị ở New York vào năm 2009, mô tả nó như là "kế hoạch quảng bá lớn nhất mà bất kỳ ngành công nghiệp nào đã từng thực hiện".

Sự thiên vị

[sửa | sửa mã nguồn]

Những lời chỉ trích điển hình của Giải Oscar cho phim xuất sắc nhất, những người đoạt giải và đề cử có sự thiên vị trong ban bầu chọn.

Phân biệt chủng tộc

[sửa | sửa mã nguồn]

Viện Hàn lâm đã nhận được nhiều lời chỉ trích về việc phân biệt chủng tộc trong số những người được đề cử. Lễ trao giải lần thứ 88 đã trở thành đỉnh điểm của một cuộc tẩy chay, dựa trên việc bầu chọn của các nhà phê bình rằng danh sách các ứng cử viên toàn là người da trắng. Đáp lại, Viện Hàn lâm đã khởi xướng những thay đổi trong lịch sử "có tính lịch sử" vào năm 2020.

Từ chối giải thưởng

[sửa | sửa mã nguồn]

Một số người chiến thắng của Giải Oscar đã tẩy chay các buổi lễ và do đó từ chối nhận giải Oscar của họ.

Người đầu tiên làm như vậy là nhà biên kịch Dudley Nichols (cho giải Oscar dành cho Kịch bản gốc xuất sắc nhất năm 1935 của phim The Informer). Nichols tẩy chay lễ trao giải Oscar lần thứ 8 vì cuộc xung đột giữa Viện Hàn lâm và Hiệp hội Biên kịch.[106] Nichols cuối cùng đã chấp nhận giải thưởng năm 1935 này ba năm sau đó, tại lễ trao giải năm 1938. Nichols đã được đề cử ba giải Oscar khác trong sự nghiệp của mình.

George C. Scott đã trở thành người thứ hai từ chối nhận giải cho Nam diễn viên xuất sắc nhất vào năm 1970 trong phim Patton) tại lễ trao giải lần thứ 43.

Người thứ ba từ chối nhận giải là Marlon Brando cho Nam diễn viên xuất sắc nhất trong phim Bố già năm 1972), ông nói rằng có sự phân biệt đối xử và ngược đãi của người Mỹ bản địa trong ngành công nghiệp điện ảnh Hoa Kỳ. Tại lễ trao giải Oscar lần thứ 45 đó, Brando đã gửi một nữ diễn viên và nhà hoạt động vì quyền công dân Sacheen Littlefeather đọc bài phát biểu gồm 15 trang chỉ rõ những lời chỉ trích của ông.

Thương hiệu

[sửa | sửa mã nguồn]

Thuật ngữ "Oscar" là một nhãn hiệu đã đăng kí tên thương mại bởi AMPAS; tuy nhiênvới tiếng Ý, nó được sử dụng rộng rãi để tham khảo bất kỳ giải thưởng hoặc lễ trao giải, bất kể trường hợp nào.

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  • K. Gail & J. Piazza, The Academy Awards the Complete History of Oscar, Black Dog & Leventhal Publishers, Inc., 2002.
  • Jon Wright, The Lunacy of Oscar; The Problems with Hollywood's Biggest Night, Thomas Publishing, Inc, 2007.
  1. 1 2 3 Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên "history"
  2. Balaga, Marta (ngày 6 tháng 3 năm 2024). "How a More International Oscars Could Change Future Awards Seasons". Variety. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2024.
  3. Feinberg, Scott (ngày 20 tháng 1 năm 2020). "Oscars: What the '1917' PGA Win and 'Parasite' SAG Win Mean for Best Picture". The Hollywood Reporter. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2023.
  4. Attributed to multiple references:
  5. "96th Academy Awards of Merit" (PDF). Academy of Motion Picture Arts and Sciences. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 2 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2024.
  6. Essex, Andrew (ngày 14 tháng 5 năm 1999). "The Birth of Oscar". Entertainment Weekly. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2011.
  7. Monush, Barry (ngày 9 tháng 2 năm 2012). "The Lure of Oscar: A Look at the Mightiest of All Award Shows, the Academy Awards". Paley Center for Media. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2019.
  8. Nichols, Chris (ngày 25 tháng 2 năm 2016). "Meet George Stanley, Sculptor of the Academy Award". Los Angeles Magazine. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2017.
  9. "The 1st Academy Awards | 1929". Oscars.org | Academy of Motion Picture Arts and Sciences. ngày 16 tháng 5 năm 1929. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2019.
  10. 1 2 3 Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên "history2"
  11. "First Academy Awards announced". HISTORY (bằng tiếng Anh). ngày 13 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2024.
  12. Geoff Colvin (ngày 13 tháng 3 năm 2026). "The Oscars make it clear:Hollywood is in a death spiral". Fortune magazine. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2026.
  13. "THE ACADEMY PARTNERS WITH YOUTUBE FOR EXCLUSIVE GLOBAL RIGHTS TO THE OSCARS® AND OTHER ACADEMY CONTENT STARTING IN 2029". ngày 17 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2026.
  14. "History of the Academy Awards". Academy of Motion Picture Arts and Sciences. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 7 năm 2010.
  15. "Academy Awards History". Academy of Motion Picture Arts and Sciences. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2025.[liên kết hỏng]
  16. "Disney hoping to win first Oscar for Best Animated Feature". New York Post. ngày 28 tháng 2 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2025.
  17. Grein, Paul (ngày 7 tháng 3 năm 2024). "Why the Oscars Are Bringing Back the 'Fab 5' Presenters Format from the 2009 Telecast". Billboard (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2025.
  18. Farhi, Paul (ngày 10 tháng 2 năm 2020). "Parasite Makes Oscars History as the First Foreign-Language Film to Win Best Picture". The Washington Post. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2020.
  19. "The Academy and ABC Set April 25, 2021 as New Show Date for 93rd Oscars®". Academy of Motion Picture Arts and Sciences. ngày 15 tháng 6 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2021.
  20. Madani, Doha (ngày 28 tháng 4 năm 2020). "Streaming films will be considered for Oscars for the first time". NBC. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2020.
  21. Pete, Hammond (ngày 18 tháng 5 năm 2022). "Academy Issues New Regulations & Rules For 95th Oscars, Films Must Qualify Again Only In Theatres". Deadline Hollywood.
  22. 1 2 "Oscar Statuette". Academy of Motion Picture Arts and Sciences. ngày 25 tháng 7 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2017.
  23. "Oscar Statuette: Legacy". Academy of Motion Picture Arts and Sciences. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2007.
  24. "Oscar Statuette: Manufacturing, Shipping and Repairs". Academy of Motion Picture Arts and Sciences. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2007.
  25. Morgan, Thomas B. "The Academy Awards: The fascinating story of how Oscars are won—and lost—through pressure, politics, and polite bribery." Redbook 114:6 (April 1960), 119.
  26. "Oscar NiArchivedght Also Big One For a Factory in Illinois". New York Times. ngày 2 tháng 4 năm 1974. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 12 năm 2024. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2024.
  27. Babwin, Don (ngày 27 tháng 1 năm 2009). "Oscar 3453 is 'born' in Chicago factory". Associated Press. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 3 năm 2014. ("Lodi News-Sentinel". Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 9 năm 2015 qua Google News.)
  28. Alvarez, Alex (ngày 22 tháng 2 năm 2013). "Meet the Mexican Model Behind the Oscar Statue". ABC News. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2016.
  29. Kojen, Natalie (ngày 16 tháng 2 năm 2016). "The Academy and Polich Tallix Fine Art Foundry Revive the Art of Oscar Statuettes". Academy of Motion Picture Arts and Sciences. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 2 năm 2016.
  30. Loviza, Amanda. "Foundry seeks tax breaks in move to Walden". recordonline.com. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2019.
  31. Kilday, Gregg (ngày 16 tháng 2 năm 2016). "Oscar Statuette Gets a Face-Lift – This year's statuettes will be produced by Polich Tallix Fine Art Foundry and will be hand-cast in bronze before receiving their 24-karat gold finish". The Hollywood Reporter. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2016.
  32. Di Nunzio, Miriam (ngày 16 tháng 2 năm 2016). "Oscar statuettes, longtime creation of Chicago-based company, will now be made in New York". Chicago Sun-Times. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 3 năm 2016.
  33. 1 2 3 4 5 Cieply, Michael (ngày 26 tháng 6 năm 2022). "So, Once And For All (We Hope), Bruce Davis Settles Why They Call It 'Oscar'". Deadline Hollywood. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 6 năm 2022. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2022.
  34. "Oscars: Who Came Up With the Name "Oscar" and More About the Statuette's History (Video)". The Hollywood Reporter. ngày 18 tháng 2 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2019.
  35. Stine, Whitney; Davis, Bette (1974). Mother Goddam: The Story of the Career of Bette Davis. New York: Hawthorn Books. tr. 74. ISBN 0-8015-5184-6. LCCN 73-10265. OCLC 1150862598.
  36. "The 6th Academy Awards Memorable Moments". Academy of Motion Picture Arts and Sciences. ngày 27 tháng 8 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2019.
  37. Dalenogare, Waldemar (ngày 6 tháng 6 năm 2021). "Descoberta: primeira menção ao nome Oscar na imprensa". Movie Reviews by Dalenogare (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2024.
  38. 1 2 Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên ":3"
  39. Kilday, Greg (ngày 9 tháng 2 năm 2010). "Oscar statues to include engraved names". The Hollywood Reporter. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 4 năm 2015.
  40. Daly, Steve (ngày 28 tháng 2 năm 2014). "Governors Ball Secrets: Welcome to the 'Engraving Station,' Where Oscar Statuettes Get Personalized". Parade Magazine. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2015.
  41. 1 2 Rose, Lacey (ngày 28 tháng 2 năm 2005). "Psst! Wanna Buy An Oscar?". Forbes. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2007.
  42. 1 2 Leonhardt, Megan. "How Much Is an Oscar Statue Worth? Here Are 3 Estimates". Money. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2019.
  43. Rothman, Heathcliff (ngày 12 tháng 2 năm 2006). "I'd Really Like to Thank My Pal at the Auction House". The New York Times. ISSN 0362-4331. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2017.
  44. Duke, Alan (ngày 12 tháng 12 năm 2011). "Orson Welles' 'Citizen Kane' Oscar for sale". CNN. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2011.
  45. Duke, Alan (ngày 21 tháng 12 năm 2011). "Orson Welles' 'Citizen Kane' Oscar brings $861,000". CNN. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2013.
  46. Cohen, Anne (ngày 15 tháng 2 năm 2018). "How Many Women Are Actually Voting for the Oscar Winners?". Refinery29. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2018.
  47. 1 2 3 Pond, Steve (ngày 12 tháng 12 năm 2024). "How Many Votes Will It Take to Get an Oscar Nomination in 2025?". TheWrap. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2024.
  48. Hutchinson, Sean (ngày 24 tháng 1 năm 2017). "How Are Oscar Nominees Chosen?". Mental Floss. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 7 năm 2018.
  49. Finlay, Jackie (ngày 3 tháng 3 năm 2006). "The men who are counting on Oscar". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2007.
  50. "Meet the only two people in the world who already know all the Oscar winners | Market Watch". Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2017.
  51. Cieply, Michael (ngày 23 tháng 5 năm 2011). "Electronic Voting Comes to The Oscars (Finally)". The New York Times. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2014.
  52. "Academy Invites 115 to Become Members". Academy of Motion Picture Arts and Sciences. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2007.
  53. Horn, John (ngày 19 tháng 2 năm 2012). "Unmasking the Academy". Los Angeles Times. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2013.
  54. Davis, Clayton (ngày 21 tháng 4 năm 2025). "Academy Sets New Oscars Rules for 2025: You Need to Watch All Nominated Films to Vote in a Category". Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2025.
  55. "Rule Two: Eligibility" (PDF). 92nd Academy Awards of Merit: Rules. Academy of Motion Picture Arts and Sciences. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 14 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2020.
  56. "FAQ". Oscars Submission. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 4 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2015.
  57. "The Academy and its Oscar Awards – Reminder List of Eligible Releases". Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 11 năm 2013.
  58. "Academy Award Rules" (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2015.
  59. McNary, Dave (ngày 7 tháng 4 năm 2017). "Oscars: New Rules Bar Multi-Part Documentaries Like 'O.J.: Made in America'". Variety. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2017.
  60. "Awards Rules Approved for 89th Oscars®" (Thông cáo báo chí). Academy of Motion Picture Arts and Sciences. ngày 30 tháng 6 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2020.
  61. 1 2 3 "Rule Eleven: Special Rules for the Documentary Awards" (PDF). 92nd Academy Awards of Merit: Rules. Academy of Motion Picture Arts and Sciences. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 14 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2020.
  62. 1 2 "Rule Nineteen: Special Rules for the Short Film Awards" (PDF). 92nd Academy Awards of Merit: Rules. Academy of Motion Picture Arts and Sciences. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 14 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2020.
  63. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên "Pond2"
  64. 1 2 Pond, Steve (ngày 7 tháng 1 năm 2006). "Eight things every voter (and fan) should know about Oscar's decidedly unique nomination process". Los Angeles Times. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2007.
  65. Young, John (ngày 27 tháng 1 năm 2011). "Oscars: The wacky way the Academy counts votes, and the results of our 'If You Were an Oscar Voter' poll". Entertainment Weekly. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2016.
  66. 1 2 3 "Preferential Voting Extended to Best Picture on Final Ballot for 2009 Oscars". Academy of Motion Picture Arts and Sciences (Thông cáo báo chí). ngày 31 tháng 8 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2016.
  67. VanDerWerff, Emily (ngày 22 tháng 2 năm 2015). "The Oscars' messed-up voting process, explained". Vox. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2019.
  68. "89TH ANNUAL ACADEMY AWARDS OF MERIT" (PDF). 2016. RULE TWENTY-TWO SPECIAL RULES FOR THE VISUAL EFFECTS AWARD. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 2 tháng 2 năm 2017. Five productions shall be selected using reweighted range voting to become the nominations for final voting for the Visual Effects award.
  69. Marich, Robert (2013). Marketing to Moviegoers: A Handbook of Strategies and Tactics (ấn bản thứ 3). Southern Illinois University Press. tr. 235–48.
  70. Bahr, Lindsey (ngày 1 tháng 5 năm 2026). "Oscars Organization Expands International Film Eligibility, Addresses AI in New Rules". Associated Press. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2026.
  71. Thompson, Anne (ngày 31 tháng 10 năm 2019). "Academy Opens Online 'Screening Room' for Oscar Contenders". IndieWire. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2022.
  72. Urban, Sasha (ngày 17 tháng 3 năm 2022). "How the Academy's Screening Room Helps Films Find a Global Audience Among Oscar Voters". Variety (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2022.
  73. "Academy of Motion Picture Arts and Sciences: How the Academy Awards Shared Films With Oscar® Voters With Complete Security". Brightcove. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2022.
  74. Welk, Brian (ngày 27 tháng 8 năm 2021). "Oscars Academy Postpones All In-Person Events and Screenings Until 2022". Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2022.
  75. Hammond, Pete (ngày 27 tháng 8 năm 2021). "Oscars: Academy Digital Screening Room Opens With Amazon And Netflix Contenders First To Vie For Voter Attention; DVDs Now Banned". Deadline Hollywood. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2022.
  76. 1 2 Fang, Marina (ngày 11 tháng 6 năm 2019). "The Oscars Are Experimenting with a Series Of Date Changes". HuffPost. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2019.
  77. Sheehan, Paul (ngày 5 tháng 9 năm 2020). "Oscars are one of Emmys' biggest winners". Gold Derby. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2023.
  78. Carter, Bill (ngày 8 tháng 4 năm 1998). "TV Notes; Moving Oscar Night". The New York Times. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2010.
  79. "Academy Awards will move to Sunday night". Reading Eagle. ngày 1 tháng 7 năm 1998. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 7 năm 2015 qua Google News Archive.
  80. "Never Say Never: Academy Awards move to Sunday". The Item. ngày 19 tháng 3 năm 1999. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 7 năm 2015 qua Google News Archive.
  81. Horn, John (ngày 5 tháng 10 năm 2010). "Academy looks to move 2012 Oscar ceremony up several weeks". Los Angeles Times. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2011.
  82. "Academy Determines New Oscars Category Merits Further Study". Academy of Motion Picture Arts and Sciences. ngày 5 tháng 9 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2019. The Board of Governors also voted to move up the date of the 92nd Oscars telecast to Sunday, February 9, 2020, from the previously announced February 23
  83. Hammond, Pete (ngày 6 tháng 3 năm 2024). "Oscar Producers Talk Early Start Time, 20 Previous Winners Presenting Acting Prizes & That Massive 'I'm Just Ken' Number With 65 Male Dancers Backing Ryan Gosling: "We're Going Big!"". Deadline (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2026.
  84. Petski, Denise; Andreeva, Nellie (ngày 27 tháng 2 năm 2018). "ABC Orders Alec Baldwin Talk Show; Sneak Peek To Air After Oscars". Deadline Hollywood. Truy cập ngày 28 tháng 2 năm 2018.
  85. Andreeva, Nellie; Petski, Denise (ngày 10 tháng 1 năm 2019). "'Whiskey Cavalier': ABC Dramedy To Preview Following Oscars". Deadline Hollywood. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2019.
  86. Hammond, Pete; Hipes, Patrick (ngày 30 tháng 11 năm 2023). "Oscars 2024 Ceremony Moves Up Start Time by an Hour; Abbott Elementary to Follow Telecast on ABC". Deadline Hollywood. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2023. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2023.
  87. Lindsey, Robert (ngày 31 tháng 3 năm 1981). "Academy Awards Postponed to Tonight". The New York Times. ISSN 0362-4331. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2019.
  88. Child, Ben (ngày 10 tháng 3 năm 2010). "Farrah Fawcett:Oscars director apologises for 'In Memoriam' omission". The Guardian. London. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2010.
  89. Cohen, Sandy (ngày 3 tháng 3 năm 2010). "Oscar's 'In Memoriam' segment is touching to watch, painful to make". USA Today. Associated Press. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2010.
  90. Ehbar, Ned (February 28, 2014). "Did you know?" Metro. New York City. p. 18.
  91. "Halle Berry, Denzel Washington Win Big". Fox News. ngày 25 tháng 3 năm 2002. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2017.
  92. Jones, Sam (ngày 16 tháng 2 năm 2010). "Cut ... all change at Oscars as winners are given just 45 seconds to say thanks". The Guardian. London. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 1 năm 2011.
  93. "Can the 'thank-you scroll' save Oscar speeches?". USA Today. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 2 năm 2016.
  94. "This Costume Designer Won Jimmy Kimmel's Jet Ski at the Oscars". Time. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2018.
  95. Bellini, Jason (ngày 21 tháng 2 năm 2019). "The Oscars Are Famously Long – Where Does the Time Go?" (Video). The Wall Street Journal. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2019.
  96. "ABC's Oscar Contract Renegotiations: Who'll Get Creative Control?". Variety. tháng 3 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2016.
  97. "Inside the Oscars Deal: What it Means for ABC and the Academy". Variety. tháng 9 năm 2016. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2016.
  98. Andreeva, Nellie (ngày 6 tháng 12 năm 2025). "NBCUniversal Joins YouTube In Exploring Oscars TV Rights For 2029 & Beyond". Deadline (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2025.
  99. Feinberg, Scott; Weprin, Alex (ngày 17 tháng 12 năm 2025). "Oscars Bolts from ABC to YouTube Starting in 2029". The Hollywood Reporter (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2025.
  100. "Oscars Award Venues, Academy of Motion Picture Arts and Sciences". Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 12 năm 2006. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2007.
  101. "Reviewed: Around the World in 80 Days, Movie City News". Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2007.
  102. "The Greatest Show on Earth, Rottentomatoes". Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2007.
  103. "Reviewed: The Poseidon Adventure, Roger Ebert". Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2007.
  104. "Academy Awards Mistakes and Omissions, Tim Dirks". Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2007.
  105. "Rebecca Thomason, How Bafta moved with the times, BBC News". Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 5 năm 2006. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2007.
  106. "The Oscars Did You Know?" (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2009.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. Starting with the 2017 awards, a qualifying release for the Documentary Feature award can take place anywhere in the five boroughs of New York City. Previously, a New York City qualifying run could only take place in Manhattan. Since then, Brooklyn has also become a popular location.[60]
Lỗi chú thích: Tồn tại thẻ <ref> cho nhóm chú thích với tên "lower-alpha", nhưng không tìm thấy thẻ <references group="lower-alpha"/> tương ứng