Bước tới nội dung

Ronny Johnsen

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bản mẫu:Similar names

Ronny Johnsen
Johnsen năm 2017
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Jean Ronny Johnsen[1]
Ngày sinh 10 tháng 6, 1969 (57 tuổi)[2]
Nơi sinh Sandefjord, Na Uy
Chiều cao 1,90 m
Vị trí Trung vệ, tiền vệ phòng ngự
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
Năm Đội
Sem
Stokke
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
1987–1991 Eik-Tønsberg 98 (24)
1992–1994 Lyn 38 (8[3])
1994–1995 Lillestrøm 23 (4)
1995–1996 Beşiktaş 22 (1)
1996–2002 Manchester United 99 (7)
2002–2004 Aston Villa 49 (1)
2004–2005 Newcastle United 3 (0)
2005–2008 Vålerenga 59 (6)
Tổng cộng 384 (50)
Sự nghiệp đội tuyển quốc gia
Năm Đội ST (BT)
1991–2007 Na Uy 62 (3)
Sự nghiệp huấn luyện
Năm Đội
2020–2021 Eik Tønsberg
2023– U-23 nữ Na Uy (trợ lý)
2025– U-18 nam Na Uy
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia

Jean Ronny Johnsen (sinh ngày 10 tháng 6 năm 1969) là cựu cầu thủ bóng đá người Na Uy, thi đấu ở vị trí trung vệ hoặc tiền vệ phòng ngự. Ông từng chơi bóng cấp câu lạc bộ tại Na Uy, Thổ Nhĩ Kỳ và Anh cho Sem, Stokke, Eik-Tønsberg, Lyn, Lillestrøm, Beşiktaş, Manchester United, Aston Villa, Newcastle United và Vålerenga.

Johnsen là thành viên đội Manchester United giành cú ăn ba Premier League, FA Cup và UEFA Champions League vào năm 1999. Ông còn giành thêm hai chức vô địch Premier League và hai Siêu cúp Anh cùng United, cũng như chức vô địch quốc gia Na Uy với Vålerenga.

Johnsen có 62 lần khoác áo đội tuyển Na Uy. Ông đại diện quốc gia tham dự Giải vô địch bóng đá thế giới 1998.

Sự nghiệp câu lạc bộ

[sửa | sửa mã nguồn]

Sinh tại Sandefjord, Johnsen lớn lên ở Stokke, nơi ông chơi cho đội địa phương Sem IF và Stokke IL khi còn trẻ. Ông bắt đầu sự nghiệp chuyên nghiệp năm 1987 ở vị trí tiền đạo cho Eik-Tønsberg thuộc hạng hai, nhưng được huấn luyện viên trưởng Nils Johan Semb đào tạo lại thành trung vệ. Johnsen muốn chơi tiền đạo; sau khi chuyển đến Lyn trước mùa giải 1992, ông thi đấu ở vị trí này cho câu lạc bộ tại Tippeligaen. Giữa mùa giải 1994, Johnsen chuyển đến Lillestrøm, nơi ông được sử dụng ở vị trí trung vệ nhiều hơn tiền đạo, trước khi gia nhập Beşiktaş năm 1995. Sau nửa mùa tại Thổ Nhĩ Kỳ, huấn luyện viên Alex Ferguson của Manchester United tiếp cận Johnsen với mong muốn ký hợp đồng. Ông từ chối lời đề nghị đầu tiên, nhưng chuyển đến Manchester United vào mùa hè năm 1996 và ký hợp đồng năm năm. Với mức phí 1,2 triệu bảng, Johnsen trở thành hậu vệ Na Uy đắt giá nhất khi đó.[4][5][6][7][8][9]

Trong thời gian tại Manchester United, ông giành bốn chức vô địch quốc gia vào năm 1997, 1999, 2000 và 2001, cùng một FA Cup năm 1999. Ông cũng là thành viên đội vô địch UEFA Champions League năm 1999. Johnsen chơi ở trung tâm hàng tiền vệ trong chiến thắng sân khách của Manchester United trước Juventus tại bán kết, rồi đá trọn trận chung kết ở Barcelona trong vai trò hậu vệ bên cạnh Jaap Stam. Ông còn có thành tích hiếm gặp khi giành bốn huy chương trong bốn lần ra sân liên tiếp cho câu lạc bộ. Johnsen có mặt trên sân ở trận quyết định chức vô địch quốc gia, chung kết FA Cup và chung kết Champions League năm 1999; vì chấn thương, lần ra sân kế tiếp của ông là trận quyết định chức vô địch quốc gia năm 2000 trước Tottenham Hotspur. Dù không đạt yêu cầu 10 lần ra sân để nhận huy chương vô địch năm 2000, ông vẫn được trao huy chương theo diện đặc cách, tương tự Dion Dublin bảy năm trước vì cùng lý do. Mùa kế tiếp, ông vừa đủ điều kiện nhận huy chương vô địch.

Trong thời gian tại Manchester United, ông ghi tám bàn trên mọi đấu trường; bàn đầu tiên đến trong trận gặp Chelsea tại Siêu cúp Anh tháng 8 năm 1997. Ông ở lại đội đến khi hợp đồng hết hạn cuối mùa giải 2001–02 và được phép chuyển nhượng tự do.

Năm 2002, Johnsen cùng đồng đội ở tuyển Na Uy Øyvind Leonhardsen thử việc tại câu lạc bộ Đức Schalke 04. Sau khi thương vụ không thành, Johnsen 33 tuổi ký hợp đồng với Aston Villa. Trong hai năm tại Aston Villa, ông ghi một bàn ở giải vô địch vào lưới Leeds United trong tháng 2 năm 2004.[10] Sau khi rời Aston Villa, Johnsen được Southampton mời thử việc và thi đấu trước Chievo Verona trong một trận giao hữu, nhưng cuối cùng không đạt thỏa thuận với câu lạc bộ.[11] Sau đó, Johnsen ký hợp đồng với Newcastle United, nhưng chỉ chơi vài trận trước khi bị thanh lý do lo ngại về thể lực.

Tháng 2 năm 2005, Johnsen tuyên bố giải nghệ bóng đá chuyên nghiệp. Không lâu sau, ông thay đổi quyết định và ký hợp đồng một năm với câu lạc bộ Na Uy Vålerenga. Sau đó, ông gia hạn hợp đồng ba lần cho mùa giải 2006, 2007 và 2008.

Johnsen chính thức kết thúc sự nghiệp cầu thủ ngày 3 tháng 11 năm 2008, khi Vålerenga thua SK Brann 0–1 trong trận cuối mùa giải 2008.

Sự nghiệp quốc tế

[sửa | sửa mã nguồn]

Johnsen không đại diện Na Uy ở cấp độ trẻ. Khi ông còn chơi cho Eik tại hạng hai, huấn luyện viên đội tuyển quốc gia Egil Olsen đưa Johnsen vào đội hình theo lời giới thiệu của Nils Johan Semb dù chưa trực tiếp xem ông thi đấu. Johnsen ra mắt đội tuyển Na Uy trong trận giao hữu gặp Thụy Điển năm 1991. Ông chơi tiền vệ cánh, tiền đạo và tiền vệ trong giai đoạn đầu ở đội tuyển, trước khi chủ yếu được sử dụng ở vị trí trung vệ. Johnsen thi đấu trong một số trận vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 1994, đồng thời đá tiền đạo khi Na Uy thắng Ba Lan 3–0 trên sân khách năm 1993 để giành vé dự World Cup, nhưng không có tên trong đội hình tới Hoa Kỳ. Bốn năm sau, Johnsen là lựa chọn số một ở vị trí trung vệ và chơi đủ bốn trận tại Giải vô địch bóng đá thế giới 1998. Ông chơi 61 trận cho Na Uy cho đến tháng 5 năm 2004, khi thi đấu trước Wales. Ba năm sau, ông trở lại đội tuyển và chơi trọn trận sân nhà gặp Argentina, cũng là trận quốc tế cuối cùng của Johnsen. Khi có lần khoác áo cuối, ông 38 tuổi 73 ngày, trở thành cầu thủ lớn tuổi thứ hai của đội tuyển Na Uy, chỉ sau Gunnar Thoresen.[4][6][4][6][12][13][6][14][6][15]

Thống kê sự nghiệp

[sửa | sửa mã nguồn]
Câu lạc bộ Mùa giải Giải đấu Giải vô địch Cúp quốc gia1 Giải vô địch Cup Châu lục2 Khác3 Tổng cộng
TrậnBànTrậnBànTrậnBànTrậnBànTrậnBànTrậnBàn
Lyn 1992 Tippeligaen 12133———154
1993 Tippeligaen 19400———194
1994 First Division 7321———94
Tổng cộng 38854———4312
Lillestrøm 1994 Tippeligaen 103—40—143
1995 Tippeligaen 131———131
Tổng cộng 234—40—274
Beşiktaş 1995–96 1.Lig 221—20—241
Manchester United 1996–97 Premier League 31020009000420
1997–98 Premier League 22231105011324
1998–99 Premier League 22350108010373
1999–2000 Premier League 300000000030
2000–01 Premier League 11100104010171
2001–02 Premier League 10100009000191
Tổng cộng 99710130350311509
Aston Villa 2002–03 Premier League 260003000—290
2003–04 Premier League 2311030——271
Tổng cộng 491106000—561
Newcastle United 2004–05 Premier League 30002000—50
Vålerenga 2005 Tippeligaen 2313[1]0—00—261
2006 Tippeligaen 19300—00—193
2007 Tippeligaen 17200—20—192
2008 Tippeligaen 6000———60
Tổng cộng 65630—20—706
Tổng cộng sự nghiệp 299271951104303037532

1 Bao gồm FA Cup, Cúp bóng đá Na Uy và Cúp bóng đá Thổ Nhĩ Kỳ.

2 Bao gồm Champions League và UEFA Cup.

3 Bao gồm Siêu cúp Anh và Siêu cúp bóng đá Thổ Nhĩ Kỳ.

Danh hiệu

[sửa | sửa mã nguồn]

Manchester United

Vålerenga

Cá nhân

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. 1 2 Ronny Johnsen trên trang Liên đoàn bóng đá Na Uy (bằng tiếng Na Uy)
  2. ↑ "Jean Ronny Johnsen" (bằng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ). Turkish Football Federation. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2019.
  3. ↑ "Ronny Johnsen trong màu áo Lyn" (bằng tiếng Na Uy). Lynhistorie.com. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2023.
  4. 1 2 3 Sonstad, Trym Oust (ngày 14 tháng 11 năm 2008). "Những điểm nổi bật trong sự nghiệp Ronny Johnsen" (bằng tiếng Na Uy). Dagbladet. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2013.
  5. ↑ Sørensen, Alex (ngày 14 tháng 11 năm 2008). "Ronny Johnsen từ chối United" (bằng tiếng Na Uy). TV 2. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2013.
  6. 1 2 3 4 5 "Ronny Johnsen – Sảnh danh vọng" (bằng tiếng Na Uy). TV 2. ngày 20 tháng 12 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2013.
  7. ↑ "Ronny Johnsen từ chối United" (bằng tiếng Na Uy). TV 2. ngày 13 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2013.
  8. ↑ Metcalf, Rupert; Nixon, Alan (ngày 6 tháng 7 năm 1996). "Di Matteo hoàn tất vụ chuyển nhượng đến Chelsea". The Independent. Independent Print Limited. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2013.
  9. ↑ "Ronny Johnsen". Store norske leksikon (bằng tiếng Na Uy). Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2013.
  10. ↑ "Aston Villa 2–0 Leeds". BBC. ngày 7 tháng 2 năm 2004. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2009.
  11. ↑ "Southampton trao cơ hội cho Johnsen". ngày 6 tháng 8 năm 2004.
  12. ↑ Koren, Eirik; Elster, Kristian (ngày 1 tháng 4 năm 2010). "Ronny Johnsen có thể trở thành tiền đạo" (bằng tiếng Na Uy). NRK. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2013.
  13. ↑ "Ronny: Chúng tôi sẽ đánh bại Ba Lan" (bằng tiếng Na Uy). Verdens Gang. Norwegian News Agency. ngày 30 tháng 8 năm 2001. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2013.
  14. ↑ "Hareide muốn có Ronny Johnsen" (bằng tiếng Na Uy). Nettavisen. ngày 3 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2013.
  15. ↑ Lyngøy, Roar (ngày 7 tháng 6 năm 2013). "Đội trưởng không nghĩ mình sẽ bắt kịp người lớn tuổi nhất" (bằng tiếng Na Uy). Bergens Tidende. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2013.[liên kết hỏng vĩnh viễn]
  16. ↑ "Ronny Johnsen: Tổng quan". Premier League. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2018.
  17. ↑ "Man Utd 2–0 Newcastle". The Guardian. London. ngày 22 tháng 5 năm 1999. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2019.
  18. ↑ "Manchester United gặp Newcastle United, ngày 11 tháng 8 năm 1996". 11v11.com. AFS Enterprises. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2019.
  19. ↑ "Siêu cúp vẫn ở lại sân nhà". The Irish Times. Dublin. ngày 4 tháng 8 năm 1997. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2019.
  20. ↑ "United đăng quang ngôi vua châu Âu". BBC News. ngày 26 tháng 5 năm 1999. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2019.
  21. ↑ "Na Uy – R. Johnsen – Hồ sơ, tin tức, thống kê sự nghiệp và lịch sử – Soccerway".

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Norway squad 1998 FIFA World Cup