Achraf Hakimi
|
Hakimi trong màu áo đội tuyển Maroc vào năm 2026 | |||||||||||||||||||||||
| Thông tin cá nhân | |||||||||||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Tên đầy đủ | Achraf Hakimi Mouh[1] | ||||||||||||||||||||||
| Ngày sinh | 4 tháng 11, 1998 [2] | ||||||||||||||||||||||
| Nơi sinh | Madrid, Tây Ban Nha | ||||||||||||||||||||||
| Chiều cao | 1,81 m (5 ft 11 in)[3] | ||||||||||||||||||||||
| Vị trí | Hậu vệ phải | ||||||||||||||||||||||
| Thông tin đội | |||||||||||||||||||||||
Đội hiện nay | Paris Saint-Germain | ||||||||||||||||||||||
| Số áo | 2 | ||||||||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ trẻ | |||||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | ||||||||||||||||||||||
| 2005–2006 | Ofigevi | ||||||||||||||||||||||
| 2006–2016 | Real Madrid | ||||||||||||||||||||||
| Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp* | |||||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | ||||||||||||||||||||
| 2016–2017 | Real Madrid Castilla | 28 | (1) | ||||||||||||||||||||
| 2017–2020 | Real Madrid | 9 | (2) | ||||||||||||||||||||
| 2018–2020 | → Borussia Dortmund (mượn) | 54 | (7) | ||||||||||||||||||||
| 2020–2021 | Inter Milan | 37 | (7) | ||||||||||||||||||||
| 2021– | Paris Saint-Germain | 128 | (19) | ||||||||||||||||||||
| Sự nghiệp đội tuyển quốc gia‡ | |||||||||||||||||||||||
| Năm | Đội | ST | (BT) | ||||||||||||||||||||
| 2016 | U-20 Maroc | 2 | (0) | ||||||||||||||||||||
| 2016 | U-23 Maroc | 2 | (0) | ||||||||||||||||||||
| 2016– | Maroc | 102 | (12) | ||||||||||||||||||||
Thành tích huy chương
| |||||||||||||||||||||||
|
*Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ tại giải quốc gia, chính xác tính đến ngày 25 tháng 4 năm 2026 ‡ Số trận ra sân và số bàn thắng ở đội tuyển quốc gia, chính xác tính đến ngày 9 tháng 7 năm 2026 | |||||||||||||||||||||||
Achraf Hakimi Mouh (tiếng Ả Rập: أشرف حكيمي موح; sinh ngày 4 tháng 11 năm 1998) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Maroc hiện đang thi đấu ở vị trí hậu vệ phải cho câu lạc bộ Ligue 1 Paris Saint-Germain và là đội trưởng của đội tuyển bóng đá quốc gia Maroc. Nổi tiếng nhờ lối chơi giàu sức tấn công, tốc độ, khả năng phòng ngự siêu hạng, và khả năng kiểm soát bóng thần sầu, anh được đánh giá là một trong những hậu vệ phải xuất sắc nhất thế giới trong thế hệ của mình.[4][5][6]
Trưởng thành từ lò đào tạo trẻ của Real Madrid, Hakimi bắt đầu chơi cho Real Madrid Castilla vào năm 2016 và được đôn lên đội hình chính vào năm 2017, chơi một vài phút với đội sau. Anh sau đó được gửi đến một hợp đồng cho mượn hai năm cho đội bóng Bundesliga Borussia Dortmund, giành DFL-Supercup vào năm 2019. Sau khi được cho mượn thành công với Dortmund, Hakimi đã ký hợp đồng với đội bóng Serie A Inter Milan với mức phí 40 triệu euro, và giúp đội bóng giành chức vô địch quốc gia, chấm dứt cơn hạn hán chức vô địch kéo dài 11 năm của câu lạc bộ. Năm 2021, anh chuyển sang khoác áo cho Paris Saint-Germain, nơi anh cùng với các đồng đội giành cú ăn ba châu lục gồm Ligue 1, Coupe de France và UEFA Champions League trong mùa giải 2024–25.
Sinh ra ở Tây Ban Nha với cha mẹ là người Maroc, Hakimi đã đại diện cho Maroc ở nhiều cấp độ trẻ khác nhau, trước khi ra mắt màu áo đội tuyển quốc gia chuyên nghiệp vào năm 2016 ở tuổi 17. Anh được chọn vào đội tuyển Maroc tham dự hai kỳ FIFA World Cup vào các năm 2018 và 2022, nơi anh và các đồng đội làm nên lịch sử khi tiến tới vòng bán kết và cán đích ở hạng tư chung cuộc ở giải đấu sau cùng, và hai kỳ AFCON vào các năm 2019 và 2021. Ngoài ra, anh còn là một trong ba cầu thủ quá tuổi của đội tuyển tham dự Thế vận hội Mùa hè 2024, nơi anh và các đồng đội giành huy chương đồng sau giải đấu. Với những đóng góp của mình, Hakimi được xếp hạng sáu chung cuộc tại Quả bóng vàng châu Âu 2025, trở thành cầu thủ Maroc đầu tiên trong lịch sử có thứ hạng cao nhất của giải.[7]
Đầu đời
[sửa | sửa mã nguồn]Sinh ra ở Madrid, Tây Ban Nha, có cha mẹ là người Maroc, Hakimi tham gia đội trẻ của Real Madrid vào năm 2006 từ CD Colonia Ofigevi khi mới tám tuổi.[8][9]
Sự nghiệp câu lạc bộ
[sửa | sửa mã nguồn]Real Madrid
[sửa | sửa mã nguồn]
Hakimi ra mắt Real Madrid trong trận đấu đầu tiên của International Champions Cup 2016, thua 1–3 trước Paris Saint-Germain.[10] Sau đó, anh trở lại đội B, ra mắt cấp cao vào ngày 20 tháng 8 năm 2016 bằng trận ra quân trong chiến thắng 3–2 Segunda División B trên sân nhà trước Real Sociedad B.[11]
Hakimi ghi bàn thắng đầu tiên của mình vào ngày 25 tháng 9 năm 2016, ghi bàn gỡ hòa trong trận hòa 1–1 trước Fuenlabrada.[12]
Vào ngày 19 tháng 8 năm 2017, Hakimi được đôn lên đội hình chính để dự phòng cho Dani Carvajal và Nacho, đồng thời được giao chiếc áo số 19.[13] Anh ra mắt đội một – và La Liga – vào ngày 1 tháng 10, bắt đầu trong chiến thắng 2–0 trên sân nhà trước Espanyol.[14] Anh ghi bàn thắng đầu tiên tại La Liga vào ngày 9 tháng 12 năm 2017 trong chiến thắng 5–0 trước Sevilla.[15] Vào ngày 12 tháng 5 năm 2018, anh ghi bàn thắng thứ hai vào lưới Celta Vigo trong chiến thắng 6–0.[16] Tại UEFA Champions League 2017–18, anh đã có hai lần ra sân khi Madrid giành chức vô địch, lần thứ ba liên tiếp và lần thứ 13 chung cuộc.[17] Mặc dù không có tên trong đội hình tham dự trận chung kết của giải đấu, song anh vẫn nhận được huy chương và được ghi nhận là cầu thủ Maroc đầu tiên vô địch Champions League.[18]
Cho mượn tại Dortmund
[sửa | sửa mã nguồn]Vào ngày 11 tháng 7 năm 2018, Hakimi ký hợp đồng với câu lạc bộ Bundesliga Borussia Dortmund theo hợp đồng cho mượn hai năm.[19][20] Anh ghi bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ trong chiến thắng 7–0 trước 1. FC Nürnberg vào ngày 27 tháng 9 năm 2018.[21] Lần đầu tiên trong sự nghiệp, anh có ba pha kiến tạo trong một trận đấu với Atlético Madrid, trong trận đấu đầu tiên tại Champions League cho Dortmund.[22] Hakimi ghi một cú đúp vào lưới Slavia Praha ở vòng bảng Champions League vào ngày 2 tháng 10 năm 2019, bàn thắng đầu tiên của anh ở giải đấu này.[23] Vào ngày 5 tháng 11 năm 2019, Hakimi ghi thêm một cú đúp nữa trong hiệp hai để biến thất bại 2–0 trước Inter Milan thành chiến thắng 3–2 tại Westfalenstadion.[24]
Vào tháng 2 năm 2020, Hakimi đã lập kỷ lục tốc độ Bundesliga khi đạt tốc độ 36,48 km/h (22,67 dặm/giờ) trong trận đấu với Union Berlin, đánh bại kỷ lục cũ của giải đấu mà anh đã lập trước RB Leipzig ba tháng trước đó là 36,2 km/h (22,5 dặm/giờ).[25] Vào ngày 31 tháng 5 năm 2020, Hakimi ghi bàn trong chiến thắng 6–1 trên sân khách của câu lạc bộ trước SC Paderborn. Sau khi ghi bàn thắng, anh cởi áo để lộ chiếc áo có dòng chữ "Công lý cho George Floyd".[26] Đồng đội của anh, Jadon Sancho, cũng để lộ chiếc áo tương tự sau khi ghi bàn.[27]
Inter Milan
[sửa | sửa mã nguồn]Vào ngày 2 tháng 7 năm 2020, Hakimi ký hợp đồng với câu lạc bộ Serie A Inter Milan theo hợp đồng 5 năm,[28] với mức phí được báo cáo là khoảng 40 triệu euro.[29] Vào ngày 26 tháng 9 năm 2020, Hakimi ra mắt và có một pha kiến tạo trong chiến thắng 4–3 trước Fiorentina ở Serie A.[30] Anh ghi bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ trong trận đấu tiếp theo với Benevento, trận đấu mà Inter thắng 5–2.[31]
Paris Saint-Germain
[sửa | sửa mã nguồn]Hakimi đã ký hợp đồng với câu lạc bộ Ligue 1 Paris Saint-Germain (PSG) vào ngày 6 tháng 7 năm 2021 theo hợp đồng 5 năm.[32] Phí chuyển nhượng mà PSG trả được The Guardian đưa tin là 60 triệu euro ban đầu, có khả năng tăng thêm 11 triệu euro trong các khoản phụ phí.[33] Hakimi có trận ra mắt tại Ligue 1 cho PSG vào ngày 7 tháng 8 năm 2021, chơi trọn vẹn 90 phút và ghi bàn thắng đầu tiên cho câu lạc bộ vào lưới Troyes.[34] Anh nhận thẻ đỏ đầu tiên ở bóng đá châu Âu trong trận hòa 0–0 trước Marseille vào ngày 24 tháng 8 năm 2021.[35] Vào ngày 22 tháng 9 năm 2021, Hakimi ghi hai bàn trong chiến thắng 2–1 trước FC Metz để cho phép đội của mình giành chiến thắng và mang về 3 điểm.[36] Trong mùa giải đầu tiên của mình tại PSG, anh cùng với các đồng đội giành được chức vô địch Ligue 1, qua đó đánh dấu đây là chức vô địch giải đấu thứ hai liên tiếp của cá nhân anh.[37]
Vào ngày 14 tháng 2 năm 2023, Hakimi được đề cử cho FIFA FIFPRO World 11 năm 2022.[38][39] Vào ngày 19 tháng 9 năm 2023, Hakimi đã ghi bàn trong chiến thắng 2–0 trước câu lạc bộ cũ Dortmund tại UEFA Champions League 2023–24, qua đó góp mặt trong Đội hình tiêu biểu của tuần do UEFA bình chọn.[40][41] Vào tháng 10 năm 2023, cùng với các cầu thủ khác của PSG là Randal Kolo Muani, Ousmane Dembélé và Layvin Kurzawa, Hakimi đã phải nhận án treo giò một trận vì tham gia vào các câu hát lăng mạ sau chiến thắng trước kình địch Marseille.[42][43] Đến ngày 1 tháng 11 năm 2023, Hakimi được CAF đề cử cho danh hiệu Cầu thủ xuất sắc nhất năm của châu Phi 2023.[44] Ngày 24 tháng 10 năm 2024, Hakimi cùng với người đồng đội ở tuyển quốc gia là Soufiane Rahimi tiếp tục được đề cử cho giải thưởng Cầu thủ xuất sắc nhất năm của châu Phi.[45][46]
Vào ngày 8 tháng 2 năm 2025, Hakimi đã gia hạn hợp đồng với Paris Saint-Germain cho đến năm 2029.[47] Ngày 7 tháng 5 năm 2025, Hakimi ghi bàn thắng thứ hai cho PSG trong chiến thắng 2–1 trước Arsenal ở trận lượt về vòng bán kết Champions League, qua đó giúp đội nhà giành vé vào chơi trận chung kết lần thứ hai trong lịch sử giải đấu.[48] Vào ngày 24 tháng 5, anh lập công trong chiến thắng 3–0 trước Reims tại trận chung kết Cúp bóng đá Pháp.[49] Đến ngày 31 tháng 5, anh là người mở tỷ số trong trận chung kết Champions League, góp công vào chiến thắng hủy diệt 5–0 trước câu lạc bộ cũ Inter Milan và trở thành cầu thủ đầu tiên ghi bàn cho PSG trong một trận chung kết Champions League.[50] Thành tích này giúp anh trở thành cầu thủ người Maroc thứ hai góp mặt trong một trận chung kết Cúp C1 châu Âu/Champions League (sau Hajry Redouane vào năm 1988 cùng Benfica), là người Maroc đầu tiên (và là cầu thủ châu Phi thứ bảy) ghi bàn trong một trận chung kết Cúp C1/Champions League,[51] đồng thời là cầu thủ người Maroc thứ hai trong lịch sử (sau Ayoub El Kaabi tại trận chung kết Europa Conference League 2024) ghi bàn trong một trận chung kết giải đấu cấp câu lạc bộ của UEFA.[52] Những màn trình diễn xuất sắc xuyên suốt mùa giải đã giúp Hakimi trở thành một ứng cử viên sáng giá cho danh hiệu Quả bóng vàng 2025.[53][54][55]
Trong mùa giải 2025–26, Hakimi cùng PSG thâu tóm cả chức vô địch Ligue 1 lẫn UEFA Champions League sau chiến thắng trên chấm luân lưu trước Arsenal ở trận chung kết.[56] Danh hiệu châu Âu này cũng đánh dấu chức vô địch Champions League thứ ba trong sự nghiệp của anh, cân bằng kỷ lục số lần lên ngôi nhiều nhất của một cầu thủ châu Phi do Samuel Eto'o nắm giữ.[57] Đây đồng thời là danh hiệu lớn thứ 19 trong sự nghiệp của anh, chính thức vượt qua thành tích của cả Eto'o và Yaya Touré để trở thành cầu thủ bóng đá châu Phi giàu thành tích nhất trong lịch sử.[58]
Sự nghiệp quốc tế
[sửa | sửa mã nguồn]
Sau khi đại diện cho Maroc ở các cấp độ U-17 và U-20,[59] Hakimi ra mắt đội U-23 vào ngày 5 tháng 6 năm 2016, trong chiến thắng giao hữu 1–0 trước U-23 Cameroon.[60] Anh có trận ra mắt quốc tế đầy đủ vào ngày 11 tháng 10 năm 2016, vào sân thay cho Fouad Chafik trong chiến thắng 4–0 trước Canada.[61] Anh ghi bàn thắng quốc tế đầu tiên vào ngày 1 tháng 9 năm 2017, ghi bàn thứ tư trong chiến thắng 6–0 trên sân nhà trước Mali.[62]

Vào tháng 5 năm 2018, anh có tên trong đội hình sơ bộ của Maroc tham dự FIFA World Cup 2018 và vào ngày 4 tháng 6, anh có tên trong đội hình 23 người chính thức cho giải đấu vào mùa hè.[63][64]
Hakimi cũng được triệu tập tham dự Cúp bóng đá châu Phi 2021 ở Cameroon.[65] Anh đá chính tất cả các trận ở vòng bảng.[66][67] Anh ấy đã ghi một quả đá phạt trực tiếp trong trận hòa 2–2 trước Gabon.[68] Anh đá chính ở vòng 16 gặp Malawi, ghi bàn từ một quả phạt trực tiếp ở phút 70 để mang về chiến thắng cho đội của mình.[69]
Vào ngày 10 tháng 11 năm 2022, Hakimi có tên trong đội hình 26 người của Maroc tham dự FIFA World Cup 2022 tại Qatar.[70][71] Anh đã ghi bàn thắng quyết định trong loạt sút luân lưu vào lưới Tây Ban Nha ở vòng 16 đội, giúp quốc gia của anh ấy có một suất vào tứ kết.[72]
Vào ngày 28 tháng 12 năm 2023, Hakimi có tên trong danh sách 27 cầu thủ được huấn luyện viên Walid Regragui triệu tập vào đội tuyển Maroc tham dự Cúp bóng đá châu Phi 2023 tại Bờ Biển Ngà.[73][74] Anh đã ghi một bàn thắng trong trận hòa 1–1 trước Cộng hòa Dân chủ Congo tại vòng bảng.[75] Tại vòng 16 đội, anh sút hỏng một quả phạt đền trong trận thua 2–0 trước Nam Phi.[76]
Vào ngày 4 tháng 7 năm 2024, Hakimi được điền tên vào danh sách đội tuyển Olympic Maroc tham dự Thế vận hội Mùa hè 2024 tại Pháp với tư cách là một trong ba cầu thủ quá tuổi và được chọn làm đội trưởng của đội.[77] Anh lần lượt đóng góp một đường kiến tạo và một bàn thắng trong các chiến thắng trước Iraq và Hoa Kỳ.[78][79] Anh tiếp tục lập công trong chiến thắng hủy diệt 6–0 của Maroc trước Ai Cập ở trận tranh huy chương đồng.[80]
Vào tháng 5 năm 2025, Achraf Hakimi là ứng cử viên sáng giá cho giải thưởng "Marc-Vivien Foé" của RFI và anh đã chính thức giành được danh hiệu này.[81]

Vào tháng 10 năm 2025, đội tuyển Maroc của Hakimi đã phá kỷ lục thế giới về chuỗi trận thắng liên tiếp dài nhất ở cấp độ quốc tế, vượt qua cột mốc 15 chiến thắng liên tiếp trước đó của Tây Ban Nha. Với chiến thắng 1–0 trước Congo tại Rabat, họ đã kéo dài mạch toàn thắng lên con số 16 trên mọi đấu trường, bao gồm cả các trận vòng loại World Cup và giao hữu.[82]
Dù đang dính chấn thương, anh vẫn có tên trong đội hình Maroc tham dự Cúp bóng đá châu Phi 2025 được tổ chức trên sân nhà.[83][84] Vào ngày 4 tháng 1 năm 2026, anh đã kiến tạo bàn thắng duy nhất trong chiến thắng 1–0 trước Tanzania ở vòng 16 đội.[85] Hakimi trở thành tâm điểm của truyền thông quốc tế vào ngày 18 tháng 1 năm 2026 khi bị phạt treo giò hai trận vì hành vi phi thể thao trong trận chung kết.[86][87] Hakimi và người đồng đội Ismael Saibari đã ngăn cản việc đưa khăn lau găng tay cho thủ môn Édouard Mendy của Senegal, đồng thời tiếp tay cho các cậu bé nhặt bóng lấy trộm khăn phía sau khung thành dưới trời mưa trong trận chung kết AFCON gặp Senegal.[88][89][90][91] Maroc sau đó đã để thua Senegal trong trận chung kết, nhưng danh hiệu vô địch cuối cùng đã được trao lại cho Maroc hai tháng sau tiếng còi mãn cuộc do những tranh cãi hậu trận đấu.[92][93]
Vào ngày 26 tháng 5 năm 2026, Hakimi được chọn vào danh sách 26 cầu thủ tham dự FIFA World Cup 2026.[94] Anh có trận đấu thứ 11 tại World Cup trong trận hòa mở màn 1–1 trước Brasil, qua đó trở thành cầu thủ Maroc ra sân nhiều nhất tại giải đấu này và phá vỡ thế cân bằng trước đó với Hakim Ziyech.[95] Sau đó, anh có lần ra sân thứ 12 trong chiến thắng 1–0 trước Scotland, chính thức trở thành cầu thủ châu Phi thi đấu nhiều trận nhất trong lịch sử World Cup, vượt qua kỷ lục cũ do François Omam-Biyik và Asamoah Gyan nắm giữ.[96]
Phong cách thi đấu
[sửa | sửa mã nguồn]Khi ký hợp đồng với Borussia Dortmund, Hakimi được mô tả là một hậu vệ cánh có khả năng tấn công nhanh, năng động và mạnh mẽ, người giỏi về chiến thuật và kỹ thuật cũng như khả năng thực hiện những đường chuyền dài chính xác từ hàng thủ. Được huấn luyện ở vị trí tiền vệ cánh, anh cũng có thể chơi ở vị trí hậu vệ nhờ thể chất của mình.[97][98]
Đời tư
[sửa | sửa mã nguồn]Hakimi đã kết hôn với nữ diễn viên người Tây Ban Nha Hiba Abouk; cô là người gốc Libya và Tunisia.[99] Cặp đôi có 2 con trai, sinh vào các năm 2020 và 2022.[99][100] Vào ngày 27 tháng 3 năm 2023, Abouk đưa ra một tuyên bố trên tài khoản Instagram của mình xác nhận rằng cặp đôi đã ly thân trước đó và họ đang chờ tố tụng ly hôn.[101]
Hakimi là một người theo đạo Hồi.[102][103]
Vào ngày 3 tháng 3 năm 2023, Hakimi bị thẩm phán điều tra ở Paris truy tố về cáo buộc hiếp dâm và bị đặt dưới sự giám sát tư pháp.[104] Anh bị cấm liên lạc với nạn nhân được cho là của mình nhưng được phép rời khỏi lãnh thổ Pháp.[105]
Hakimi và vợ, Hiba Abouk ly hôn vào năm 2023, trong quá trình làm thủ tục ly hôn, có thông tin cho rằng Hiba đã yêu cầu hơn một nửa tài sản và gia tài của Hakimi.[106][107] Các báo cáo chưa được xác nhận suy đoán rằng Hiba đã bị "sốc" khi biết rằng tài sản của Hakimi được giữ dưới tên của mẹ anh.[108][109][110][111][112]
Thống kê sự nghiệp
[sửa | sửa mã nguồn]Câu lạc bộ
[sửa | sửa mã nguồn]- Tính đến ngày 30 tháng 5 năm 2026[113]
| Câu lạc bộ | Mùa giải | Giải đấu | Cúp quốc gia[a] | Châu Âu | Khác | Tổng cộng | ||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Hạng đấu | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | Trận | Bàn | ||
| Real Madrid Castilla | 2016–17 | Segunda División B | 28 | 1 | — | — | — | 28 | 1 | |||
| Real Madrid | 2017–18 | La Liga | 9 | 2 | 5 | 0 | 2[b] | 0 | 1[c] | 0 | 17 | 2 |
| Borussia Dortmund (mượn) | 2018–19 | Bundesliga | 21 | 2 | 2 | 1 | 5[b] | 0 | — | 28 | 3 | |
| 2019–20 | 33 | 5 | 3 | 0 | 8[b] | 4 | 1[d] | 0 | 45 | 9 | ||
| Tổng cộng | 54 | 7 | 5 | 1 | 13 | 4 | 1 | 0 | 73 | 12 | ||
| Inter Milan | 2020–21 | Serie A | 37 | 7 | 3 | 0 | 5[b] | 0 | — | 45 | 7 | |
| Paris Saint-Germain | 2021–22 | Ligue 1 | 32 | 4 | 0 | 0 | 8[b] | 0 | 1[e] | 0 | 41 | 4 |
| 2022–23 | 28 | 5 | 2 | 0 | 8[b] | 0 | 1[e] | 0 | 39 | 5 | ||
| 2023–24 | 25 | 4 | 3 | 0 | 11[b] | 1 | 1[e] | 0 | 40 | 5 | ||
| 2024–25 | 25 | 4 | 5 | 1 | 17[b] | 4 | 8[f] | 2 | 55 | 11 | ||
| 2025–26 | 18 | 2 | 0 | 0 | 13[b] | 1 | 1[g] | 0 | 32 | 3 | ||
| Tổng cộng | 128 | 19 | 10 | 1 | 57 | 6 | 12 | 2 | 207 | 28 | ||
| Tổng cộng sự nghiệp | 256 | 36 | 23 | 2 | 77 | 10 | 14 | 2 | 370 | 50 | ||
- ↑ Bao gồm Copa del Rey, DFB-Pokal, Coppa Italia, Coupe de France
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 Số lần ra sân tại UEFA Champions League
- ↑ Số lần ra sân tại FIFA Club World Cup
- ↑ Ra sân tại DFL-Supercup
- 1 2 3 Ra sân tại Trophée des Champions
- ↑ Một lần ra sân tại Trophée des Champions, bảy lần ra sân và hai bàn thắng tại FIFA Club World Cup
- ↑ Ra sân tại UEFA Super Cup
Đội tuyển quốc gia
[sửa | sửa mã nguồn]- Tính đến ngày 9 tháng 7 năm 2026[114]
| Đội tuyển bóng đá | Năm | Trận | Bàn |
|---|---|---|---|
| Maroc | 2016 | 1 | 0 |
| 2017 | 5 | 1 | |
| 2018 | 12 | 0 | |
| 2019 | 10 | 1 | |
| 2020 | 4 | 1 | |
| 2021 | 9 | 2 | |
| 2022 | 20 | 3 | |
| 2023 | 7 | 0 | |
| 2024 | 14 | 2 | |
| 2025 | 7 | 1 | |
| 2026 | 13 | 1 | |
| Tổng cộng | 102 | 12 | |
- Kể từ trận đấu diễn ra vào ngày 6 tháng 6 năm 2025. Tỷ số của Maroc được liệt kê đầu tiên, cột tỷ số cho biết tỷ số sau mỗi bàn thắng của Hakimi.[114]
| # | Ngày | Địa điểm | Đối thủ | Bàn thắng | Kết quả | Giải đấu | Nguồn |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 1 tháng 9 năm 2017 | Sân vận động Hoàng tử Moulay Abdellah, Rabat, Maroc | 4–0 | 6–0 | Vòng loại FIFA World Cup 2018 | [62] | |
| 2 | 19 tháng 11 năm 2019 | Sân vận động Hoàng tử Louis Rwagasore, Bujumbura, Burundi | 3–0 | 3–0 | Vòng loại CAN 2021 | [115] | |
| 3 | 13 tháng 11 năm 2020 | Sân vận động Mohammed V, Casablanca, Maroc | 1–0 | 4–1 | Vòng loại CAN 2021 | [116] | |
| 4 | 12 tháng 6 năm 2021 | Sân vận động Hoàng tử Moulay Abdellah, Rabat, Maroc | 4–0 | 6–0 | Giao hữu | [117] | |
| 5 | 6 tháng 10 năm 2021 | Sân vận động Hoàng tử Moulay Abdellah, Rabat, Maroc | 1–0 | 5–0 | Vòng loại FIFA World Cup 2022 | [118] | |
| 6 | 18 tháng 1 năm 2022 | Sân vận động Ahmadou Ahidjo, Yaoundé, Cameroon | 2–2 | 2–2 | CAN 2021 | [119] | |
| 7 | 25 tháng 1 năm 2022 | Sân vận động Ahmadou Ahidjo, Yaoundé, Cameroon | 2–1 | 2–1 | CAN 2021 | [120] | |
| 8 | 29 tháng 3 năm 2022 | Sân vận động Hoàng tử Moulay Abdellah, Rabat, Maroc | 4–0 | 4–1 | Vòng loại FIFA World Cup 2022 | [121] | |
| 9 | 21 tháng 1 năm 2024 | Sân vận động Laurent Pokou, San-Pédro, Bờ Biển Ngà | 1–0 | 1–1 | CAN 2023 | [122] | |
| 10 | 12 tháng 10 năm 2024 | Sân vận động Honor, Oujda, Maroc | 3–0 | 5–0 | Vòng loại Cúp bóng đá châu Phi 2025 | [123] | |
| 11 | 6 tháng 6 năm 2025 | Sân vận động Fez, Fez, Maroc | 1–0 | 2–0 | Giao hữu | [124] | |
| 12 | 24 tháng 6 năm 2026 | Sân vận động Mercedes-Benz, Atlanta, Hoa Kỳ | 1–1 | 4–2 | FIFA World Cup 2026 | [125] |
Danh hiệu
[sửa | sửa mã nguồn]Real Madrid Castilla
Real Madrid
- Supercopa de España: 2017[127]
- UEFA Champions League: 2017–18[128]
- UEFA Super Cup: 2017[129]
- FIFA Club World Cup: 2017[130]
Borussia Dortmund
Inter Milan
Paris Saint Germain
- Ligue 1: 2021–22, 2022–23, 2023–24,[133] 2024–25,[134] 2025–26[135]
- Coupe de France: 2023–24,[136] 2024–25[137]
- Trophée des Champions: 2022, 2023, 2024
- UEFA Champions League: 2024–25,[138] 2025–26[139]
- UEFA Super Cup: 2025,[140] 2026[141]
- FIFA Club World Cup á quân: 2025[142]
Maroc
Cá nhân
- Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất năm của CAF: 2018,[144] 2019[145][146]
- Tân binh của tháng Bundesliga: Tháng 9 năm 2018,[147] Tháng 11 năm 2018,[148] Tháng 12 năm 2019[149]
- Đội hình Bundesliga của năm: 2019–20[150]
- Cầu thủ xuất sắc nhất châu Phi của Lion d'Or: 2019[151][152]
- Đội hình đột phá của UEFA Champions League: 2019[153]
- Globe Soccer Awards Cầu thủ trẻ Ả Rập xuất sắc nhất năm: 2019[154]
- Joy Awards Arab Sportsman of the Year: 2022[155][156]
- Đội hình tiêu biểu châu Phi của năm: 2018,[157] 2019[158]
- Đội tuyển bóng đá châu Phi của năm của Pháp: 2018,[159] 2019,[160] 2020,[161] 2021[162]
- Đội CAF của năm: 2019[146]
- Đội ESM của năm: 2021[163]
- Đội hình nam Maroc trong mơ mọi thời đại của IFFHS[164]
- Đội hình châu Phi của năm của IFFHS: 2020,[165] 2021,[166] 2022[167]
- IFFHS Men's World Team: 2021,[168] 2022[169]
- Đội hình tiêu biểu Cúp bóng đá châu Phi: 2021[170]
- Đội hình Serie A của năm: 2020–21[171]
- FIFA FIFPRO World 11: 2022[172]
- Cầu thủ Maroc xuất sắc nhất ở nước ngoài: 2020–21,[173] 2021–22[173]
Tước hiệu
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ "Censo Electoral Transitorio Futbolistas mayores de 18 años" [Census of over-18 footballers] (bằng tiếng Tây Ban Nha). FFMadrid. ngày 23 tháng 9 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2017.
- ↑ "FIFA Club World Cup UAE 2017: List of players: Real Madrid CF" (PDF). FIFA. ngày 16 tháng 12 năm 2017. tr. 5. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 23 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2017.
- ↑ "Achraf Hakimi Dortmund Profile". tháng 9 năm 2018 [circa]. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2018.
- ↑ White, Mark (ngày 10 tháng 3 năm 2023). "Ranked! The 10 best right-backs in the world". FourFourTwo. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2025.
- ↑ "The 25 best right backs in world football - ranked". 90min. ngày 11 tháng 11 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2025.
- ↑ Smith, Charlie (ngày 5 tháng 5 năm 2025). "The Best 15 Right-Backs in World Football Ranked (2025)". Football FanCast. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2025.
- ↑ Kesiena, David (ngày 23 tháng 9 năm 2025). "Dembélé wins Ballon d'Or 2025 as Hakimi makes history". Rolling Out (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2025.
- ↑ "Achraf Hakimi, la pépite marocaine qui affole le Real Madrid" [Achraf Hakimi, the Moroccan pearl who astonishes Real Madrid]. Foot Mercato (bằng tiếng Pháp). ngày 23 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2017.
- ↑ "Achraf Hakimi is the future Dani Carvajal". Marca. ngày 24 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2017.
- ↑ "Cuatro canteranos debutaron con el primer equipo del Real Madrid" [Four youth players debuted with Real Madrid's first team]. Libertad Digital (bằng tiếng Tây Ban Nha). ngày 28 tháng 7 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2017.
- ↑ "3–2: Espectacular remontada del Castilla en el último minuto" [3–2: Spetacular last-minute comeback of Castilla] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Real Madrid CF. ngày 20 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2017.
- ↑ "1–1: Achraf da un punto al Castilla en Fuenlabrada" [1–1: Achraf gives a point to Castilla in Fuenlabrada] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Real Madrid CF. ngày 25 tháng 9 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2017.
- ↑ "Achraf Hakimi se quedará con ficha del primer equipo blanco" [Achraf Hakimi will stay with a place in the first team blanco]. Diario AS (bằng tiếng Tây Ban Nha). ngày 19 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2017.
- ↑ "Isco double fuels Real Madrid to first home La Liga victory". ESPN FC. ngày 1 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2017.
- ↑ Okeleji, Oluwashina (ngày 10 tháng 12 năm 2017). "Hakimi only sixth African player to score for Real Madrid". BBC Sport. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2017.
- ↑ "Real Madrid 6-0 Celta Vigo". BBC Sport. ngày 12 tháng 5 năm 2018.
- ↑ "Madrid beat Liverpool to complete hat-trick". UEFA. ngày 26 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2018.
- ↑ "Achraf Hakimi Becomes First Moroccan Footballer to Win Champions League". Morocco World News. ngày 26 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2018.
- ↑ "Borussia Dortmund sign Achraf Hakimi on loan". Borussia Dortmund. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2018.
- ↑ "Official Announcement: Achraf". Real Madrid CF. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2018.
- ↑ "Marco Reus stars as breathtaking Borussia Dortmund put seven past Nuremberg". Bundesliga. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2018.
- ↑ "Dortmund 4–0 Atletico". UEFA. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2018.
- ↑ "Visitors ease to victory in Prague". UEFA. ngày 2 tháng 10 năm 2019. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2020.
- ↑ "Achraf Hakimi-inspired Borussia Dortmund pull off remarkable comeback to beat Inter Milan". Bundesliga. ngày 5 tháng 11 năm 2019.
- ↑ "Achraf sets Bundesliga speed record". Managing Madrid. ngày 29 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2020.
- ↑ "SC Paderborn 1–6 Borussia Dortmund". BBC Sport. ngày 31 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2020.
- ↑ "Thuram, Sancho and Hakimi lead Bundesliga protests amid ongoing unrest in U.S." Goal.com. ngày 31 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2020.
- ↑ "Achraf Hakimi joins Inter" (Thông cáo báo chí). Inter Milan. ngày 2 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2020.
- ↑ "Inter complete €40m Hakimi signing as full-back leaves Real Madrid". Goal.com. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2020.
- ↑ Reuters Staff (ngày 26 tháng 9 năm 2020). "Inter hit two late goals to beat Fiorentina 4-3". Reuters. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2021.
{{Chú thích báo}}:|author=có tên chung (trợ giúp) - ↑ "Benevento vs. Internazionale - Football Match Report - ngày 30 tháng 9 năm 2020 - ESPN". ESPN. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2021.
- ↑ "Achraf Hakimi signs for Paris Saint-Germain". Paris Saint-Germain F.C. ngày 6 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2021.
- ↑ Romano, Fabrizio (ngày 6 tháng 7 năm 2021). "PSG sign full-back Achraf Hakimi with Ramos and Donnarumma set to follow". The Guardian. London. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2021.
- ↑ "Troyes V Paris Saint-Germain". Paris Saint-Germain F.C. ngày 7 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2021.
- ↑ "PSG's Hakimi receives first Ligue 1 red in Marseille draw | Goal.com". www.goal.com. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2021.
- ↑ "Hakimi double saves PSG at Metz to stretch perfect Ligue 1 start | Goal.com". www.goal.com. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2022.
- ↑ Whitehead, Luke Bosher and Jacob. "PSG crowned Ligue 1 champions after draw against Lens". The Athletic (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2023.
- ↑ "Achraf Hakimi among best players of 2022, FIFPRO". HESPRESS. ngày 14 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2023.
- ↑ Rahhou, Jihane. "Achraf Hakimi Nominated for 2022 FIFA FIFPRO World 11". Morocco World News. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2023.
- ↑ "Morocco's Achraf Hakimi in UEFA's Team of Week". MapNews. ngày 21 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2023.
- ↑ "Morocco's Achraf Hakimi in UEFA's team of week". HESPRESS. ngày 21 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2023.
- ↑ "Four PSG players suspended after offensive chants". ESPN (bằng tiếng Anh). ngày 5 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2023.
- ↑ "PSG – OM. Hakimi, Dembélé et Kolo Muani risquent une suspension après des chants anti-OM". Ouest-France.fr (bằng tiếng Pháp). ngày 25 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2024.
- ↑ "CAF announces CAF Awards 2023 Nominees for Men's Categories". CAF. ngày 11 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 11 năm 2023.
- ↑ El Masaiti, Amira (ngày 24 tháng 10 năm 2024). "Moroccans Hakimi and Rahimi Nominated for CAF Player of the Year Award". HESPRESS. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2024.
- ↑ "CAF announces #CAFAwards24 Nominees for Men's Categories". CAF announces #CAFAwards24 Nominees for Men’s Categories. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2024.
- ↑ "Achraf Hakimi: "We have big things to achieve together"". Paris Saint-Germain FC. ngày 8 tháng 2 năm 2025.
- ↑ Hytner, David (ngày 7 tháng 5 năm 2025). "Hakimi seals PSG's Champions League final spot as bold Arsenal fall short". The Guardian.
- ↑ "PSG 3–0 Reims". BBC Sport. ngày 24 tháng 5 năm 2025.
- ↑ Ogden, Mark (ngày 31 tháng 5 năm 2025). "Champions League final: PSG rout Inter Milan in record win for 1st title". ESPN.
- ↑ "FULL LIST: Six African players who have scored in UEFA Champions League Finals". The Nation. Lagos, Nigeria. ngày 22 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2025.
- ↑ "The Nine African Stars Who've Score In European Finals". Soccer Laduma. ngày 26 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2025.
- ↑ "Achraf Hakimi emerges as strong Ballon d'Or contender after stellar season". Yabiladi. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "Hakimi for the Ballon d'Or? The Paris full-back's unique record 🤯". OneFootball. ngày 5 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "« Il est, pour moi, le Ballon d'Or de cette saison » : Hervé Renard donne sa préférence à Achraf Hakimi". L'Équipe (bằng tiếng Pháp). Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "Hakimi's PSG Beat Arsenal on Penalties to Retain Champions League Title". Morocco World News. ngày 30 tháng 5 năm 2026.
- ↑ Ditlhobolo, Austin (ngày 31 tháng 5 năm 2026). "Hakimi equals Eto'o: African UCL Legend Status unlocked!". African Football.
- ↑ "Champions League: PSG, World Celebrate Hakimi as Record Breaker". Morocco World News. ngày 31 tháng 5 năm 2026.
- ↑ "Achraf Hakimi, une première en grandes pompes" [Achraf Hakimi, a first-teamer with great future]. Le360 Sport (bằng tiếng Pháp). ngày 2 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2017.
- ↑ "Rapport de match: Maroc Olympique 1–0 Cameroun Olympique" [Match report: Morocco Olympic 1–0 Cameroon Olympic]. Mountakhab.net (bằng tiếng Pháp). ngày 5 tháng 6 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2017.
- ↑ "Achraf Hakimi becomes Real Madrid's first Moroccan international". Marca. Spain. ngày 12 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2017.
- 1 2 "Real Madrid's Achraf scores on his competitive Morocco debut". Marca. Spain. ngày 2 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2017.
- ↑ "World Cup 2018: Morocco announce preliminary 26-man squad". Talksport. ngày 18 tháng 5 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2018.
- ↑ "Coupe du monde 2018: liste finale des vingt trois Lions de l'Atlas" [2018 World Cup: final list of twenty-three Atlas Lions] (bằng tiếng Pháp). Royal Moroccan Football Federation. ngày 4 tháng 6 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2018.
- ↑ "Afcon 2021: Hakim Ziyech not recalled to Morocco squad for tournament in Cameroon". BBC Sport. ngày 23 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 24 tháng 12 năm 2021.
- ↑ "Africa Cup of Nations". Sky Sports (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2022.
- ↑ "Africa Cup of Nations". Sky Sports (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2022.
- ↑ "Gabon v Morocco Match Report, 18/01/2022, Africa Cup of Nations". www.goal.com. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2022.
- ↑ "Morocco 2-1 Malawi: Achraf Hakimi free-kick completes Morocco comeback to reach AFCON quarter-finals". Sky Sports (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2022.
- ↑ "Morocco World Cup 2022 squad: Who's in and who's out". Goal.com. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2022.
- ↑ "Moroccan coach unveils list of 26 Atlas Lions in 2022 World Cup". hespress.com. ngày 10 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2022.
- ↑ "Achraf Hakimi converts a penalty kick to send Morocco to the quarterfinals | 2022 FIFA World Cup". FOX Sports (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2022.
- ↑ "Regragui unveils 27 player list for Morocco's participation in CAN 2023". HESPRESS English - Morocco News (bằng tiếng Anh). ngày 28 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2023.
- ↑ "Regragui names 27 provisional players for AFCON". CAF (bằng tiếng Anh). ngày 28 tháng 12 năm 2023. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2023.
- ↑ "Morocco vs DR Congo 1:1 – AFCON 2023, as it happened". Al Jazeera (bằng tiếng Anh). ngày 21 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2024.
- ↑ "Afcon: Hakimi misses penalty and Amrabat sent off as South Africa stun Morocco". The Guardian (bằng tiếng Anh). ngày 30 tháng 1 năm 2024. ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2025.
- ↑ "السيد طارق السكتيوي يكشف عن قائمة اللاعبين المتوجه إلى باريس" [Mr. Tariq Al-Saktiwi reveals the list of players heading to Paris] (bằng tiếng Ả Rập). Royal Moroccan Football Federation. ngày 4 tháng 7 năm 2024.
- ↑ "Morocco U23 vs Iraq U23: Olympics". BBC Sport. ngày 30 tháng 7 năm 2024.
- ↑ "Morocco U23 vs United States U23: Olympics". BBC Sport. ngày 2 tháng 8 năm 2024.
- ↑ "Egypt U23 vs Morocco U23: Olympics". BBC Sport. ngày 8 tháng 8 năm 2024.
- ↑ "Prix Marc-Vivien Foé 2025: le sacre du Marocain Achraf Hakimi". Radio France International. ngày 12 tháng 5 năm 2025.
- ↑ Gleeson, Mark (ngày 14 tháng 10 năm 2025). "Morocco beat Congo to surpass Spain's wins record". Reuters. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2025.
- ↑ "Morocco include injured captain Hakimi in AFCON squad". The Arab News. ngày 11 tháng 12 năm 2025.
- ↑ "Morocco name star-studded AFCON squad as Hakimi makes cut but Diop misses out". Confederation of African Football. ngày 11 tháng 12 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2025.
- ↑ Miller, Ben (ngày 4 tháng 1 năm 2026). "Morocco 1–0 Tanzania". BBC Sport.
- ↑ "CAF suspends Pape Thiaw, Achraf Hakimi, Ismael Saibari after AFCON final fallout". ESPN. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2026.
- ↑ Meza, Manuel (ngày 29 tháng 1 năm 2026). "PSG's Achraf Hakimi Suspended By CAF For Incident In AFCON Final". Yahoo Sports (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2026.
- ↑ "What's with Morocco players, ball boys trying to swipe opposition goalkeepers' towels?!". ESPN.com (bằng tiếng Anh). ngày 19 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2026.
- ↑ Yani, Oleksii (ngày 19 tháng 1 năm 2026). "Moroccan ball boys and players tried to steal Edouard Mendy's towel during the AFCON final - Achraf Hakimi among those involved". Tribuna.com. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2026.
- ↑ to-%C3%A9douard-mendy-over-the-towel-incident-2026-01-20 "The Most Awkward Moment of the Final: Morocco Apologizes to Édouard Mendy Over the Towel Incident". beIN SPORTS (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2026.
{{Chú thích web}}: Kiểm tra giá trị|url=(trợ giúp) - ↑ "Hakimi: I'm not proud of the towel incident.. and I'm frustrated despite the win over Liverpool | Goal.com US". www.goal.com (bằng tiếng Anh). ngày 9 tháng 4 năm 2026. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2026.
- ↑ "CAF Appeal Board Media Statement". CAF Appeal Board Media Statement.
- ↑ Aarons, Ed (ngày 17 tháng 3 năm 2026). "Senegal stripped of Africa Cup of Nations title over walkout protest in final". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2026.
- ↑ "Morocco squad brimming with Qatar 2022 heroes" (bằng tiếng Anh). ngày 26 tháng 5 năm 2026. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2026.
- ↑ "Hakimi Achieves Unprecedented World Cup Feat". ysscores.com. ngày 14 tháng 6 năm 2026.
- ↑ "Hakimi becomes most-capped African player in World Cup history". Tribuna.com. ngày 19 tháng 6 năm 2026.
- ↑ "Achraf". Real Madrid CF. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2017.
- ↑ Twomey, Liam; Carey, Mark (ngày 22 tháng 6 năm 2021). "How Achraf Hakimi could be a potent source of goals and creativity for Chelsea". The Athletic. Truy cập ngày 2 tháng 11 năm 2021.
- 1 2 "Achraf Hakimi: 10 things on Borussia Dortmund's high-flying Real Madrid loanee". bundesliga.com. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2020.
- ↑ "Borussia Dortmund's Hakimi returns to Madrid for birth of first child". Goal.com. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2020.
- ↑ Porcel, María (ngày 28 tháng 3 năm 2023). "Hiba Abouk breaks silence after Achraf Hakimi accused of rape: 'I will always be on the side of the victims'". El País. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2023.
- ↑ "ShowSport.me". Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2023.
- ↑ "How Morocco's Hakimi went from 'difficult moments' to stardom". Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2023.
- ↑ "PSG's Achraf Hakimi under investigation after rape allegation". Al Jazeera. ngày 3 tháng 3 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2023.
- ↑ Noack, Rick (ngày 3 tháng 3 năm 2023). "Top Moroccan soccer player charged with rape in France". The Washington Post. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2023.
- ↑ "Achraf Hakimi ex-wife tries to claim half his fortune, discovers nothing in his name". Al Arabiya English (bằng tiếng Anh). ngày 14 tháng 4 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2023.
- ↑ Orevba, Babajide (ngày 14 tháng 4 năm 2023). "Sadia Mouth: Spotlight on Achraf Hakimi's Mother After Moroccan's Exploits in Qatar". SportsBrief - Sport news. (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2023.
- ↑ "Achraf Hakimi's ex-wife tries to claim half his fortune but discovers his mother owns it all". HESPRESS English - Morocco News (bằng tiếng Anh). ngày 14 tháng 4 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2023.
- ↑ Sahnouni, Mariya. "Divorce: Hiba Abouk Discovers Achraf Hakimi's Mother Owns All His Assets". moroccoworldnews (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2023.
- ↑ "Hiba Abouk's unexpected setback in divorce with Achraf Hakimi". MARCA (bằng tiếng Anh). ngày 14 tháng 4 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2023.
- ↑ "Divorce drama as Morocco footballer Achraf Hakimi's wife discovers he owns 'nothing'". The Citizen (bằng tiếng Anh). ngày 14 tháng 4 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2023.
- ↑ "Achraf Hakimi's ex-wife Hiba tries to claim his fortune in divorce settlement, discovers everything's in his mother's name". www.gulftoday.ae. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2023.
- ↑ "Achraf Hakimi Soccerway Profile". Soccerway. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2018.
- 1 2 "Hakimi, Achraf". National Football Teams. Truy cập ngày 4 tháng 9 năm 2017.
- ↑ "Achraf ammunition leads the way in Europe's big five leagues". Diario AS. ngày 19 tháng 11 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2022.
- ↑ Football, CAF-Confedération Africaine du. "Morocco beats Central Africa, Bafana score twice against Sao Tome". CAF Online. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "Hakimi: Chelsea target fires Morocco past Burkina Faso". Goal.com. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "SuperSport". Supersport (bằng tiếng Tráng). Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "Gabon vs. Morocco - Football Match Report - ngày 18 tháng 1 năm 2022". ESPN. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "Africa Cup of Nations: Achraf Hakimi scores another free-kick stunner as Morocco beat Malawi to reach quarter-finals". Eurosport. ngày 25 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "Morocco vs. DR Congo - Football Match Report - ngày 29 tháng 3 năm 2022". ESPN. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "Morocco tie with Congo 1-1 in second AFCON game". Hespress. ngày 21 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2024.
- ↑ "Morocco vs. Central African Republic - Football Match Report - October 12, 2024". ESPN. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2024.
- ↑ "Morocco vs. Tunisia - Football Match Report - June 6, 2025". ESPN. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2024.
- ↑ "Morocco vs. Haiti - Football Match Report - June 24, 2026". ESPN. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2026.
- ↑ "CRÓNICA – El Real Madrid gana el derbi final y alza la Copa del Rey Juvenil". rfef.es. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2022.
- ↑ "Acta del partido celebrado el 13 de agosto de 2017, en Barcelona" [Minutes of the match held on ngày 13 tháng 8 năm 2017, in Barcelona] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Royal Spanish Football Federation. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2020.
"Acta del partido celebrado el 16 de agosto de 2017, en Madrid" [Minu3tes of the match held on ngày 16 tháng 8 năm 2017, in Madrid] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Royal Spanish Football Federation. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2020. - ↑ "2017/18, Final: Real Madrid 3–1 Liverpool: Overview". UEFA. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2020.
- ↑ "Final: Real Madrid 2–1 Man. United: Line-ups". UEFA. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2020.
- ↑ "Match report: Real Madrid Club de Fútbol – Grêmio Foot-Ball Porto Alegrense". FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2020.
- ↑ "Borussia Dortmund gewinnt den Supercup 2019 gegen den FC Bayern München" [Borussia Dortmund wins the 2019 Supercup against FC Bayern Munich] (bằng tiếng Đức). Dortmund: Bundesliga. ngày 3 tháng 8 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2019.
- ↑ "Inter end Juventus' Serie A dominance with first title in 11 years". ESPN. ngày 2 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2021.
- ↑ "Paris Saint-Germain win their 12th Ligue 1 title!". Paris Saint-Germain F.C. ngày 28 tháng 4 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 4 năm 2024. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2024.
- ↑ "Le PSG champion de France pour la 13e fois de son histoire après sa victoire contre Angers" [PSG are crowned French champions for the 13th time in their history after their victory against Angers.]. L'Équipe (bằng tiếng Pháp). Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2025.
- ↑ "Grâce à un grand Safonov, le PSG s'impose à Lens et décroche son 14e titre de champion de France" (bằng tiếng Pháp). L’Equipe. ngày 13 tháng 5 năm 2026. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2026.
- ↑ "PSG beat Lyon 2-1 to win French Cup final in Mbappe's farewell appearance". Reuters. ngày 25 tháng 5 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2024.
- ↑ Guillemet, Hugo (ngày 24 tháng 5 năm 2025). "Le PSG s'offre une 16e Coupe de France après une victoire facile en finale contre Reims". L'Équipe (bằng tiếng Pháp). Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2025.
- ↑ "PSG-Inter Milan : les Parisiens remportent brillamment la Ligue des champions". lemonde.fr. lemonde.fr. ngày 31 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2025.
- ↑ "Paris vs Arsenal". UEFA. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2026.
- ↑ "Après une remontée spectaculaire, le PSG remporte la Supercoupe d'Europe aux tirs au but contre Tottenham" (bằng tiếng Pháp). L’Équipe. ngày 13 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2025.
- ↑ "Le PSG remporte la Supercoupe d'Europe pour la deuxième fois de suite en dominant Aston Villa". PSG. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2026.
- ↑ "Douché par Chelsea, le PSG ne sera pas le premier vainqueur de la Coupe du monde des clubs". L'Équipe (bằng tiếng Pháp). ngày 13 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2025.
- ↑ MacDonald, Keifer (ngày 18 tháng 1 năm 2026). "Senegal walk off in Afcon final over penalty award". BBC Sport. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2026.
- ↑ "Achraf Hakimi named 2018 African Youth Player of the Year". OneFootball. ngày 8 tháng 1 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2019.
- ↑ "Borussia Dortmund's Achraf Hakimi wins 2019 African Youth Player of the Year award". Bundesliga. ngày 7 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020.
- 1 2 "Mane, Oshoala named African Footballers of 2019 at CAF Awards". Confederation of African Football. ngày 7 tháng 1 năm 2020. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2020.
- ↑ "Bundesliga: Achraf Hakimi wins the Bundesliga's Rookie of the Month award". MARCA in English (bằng tiếng Anh). ngày 16 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "Dortmund's Achraf Hakimi wins second Bundesliga Rookie of the Month award | Goal.com". www.goal.com. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "BUNDESLIGA ROOKIE AWARD". Bundesliga. tháng 11 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 11 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2020.
- ↑ Football, Planet (ngày 10 tháng 7 năm 2020). "The 2019-20 Bundesliga Team of the Year: Sancho, Werner, Havertz..." Planet Football.
- ↑ "أشرف حكيمي يتوج بجائزة "الأسد الذهبي" لـ "المنتخب"". AlMountakhab official. ngày 1 tháng 1 năm 2019.
- ↑ "Une nouvelle récompense pour Hakimi". El Heddaf. ngày 1 tháng 1 năm 2020.
- ↑ "Champions League breakthrough team of 2019". UEFA. ngày 30 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2020.
- ↑ "Achraf Hakimi - Best Young Arab Player of the Year". globesoccer.com. Globe Soccer Awards. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2019.
- ↑ Kasraoui, Safaa (ngày 22 tháng 1 năm 2023). "Morocco's Achraf Hakimi Dedicates Joy Awards Prize to His Mother". Morocco World News (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2023.
- ↑ "Morocco's Hakimi named Arab Sportsman of the Year". BBC Sport (bằng tiếng Anh). ngày 23 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2023.
- ↑ "Revealed: Goal Africa Team of the Year 2018 | Goal.com". www.goal.com. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2021.
- ↑ "Goal Africa Team of the Year 2019 | Goal.com". www.goal.com. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2021.
- ↑ "France Football. Voici l'équipe type (2018) des joueurs africains évoluant en Europe". Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2022.
- ↑ "Mahrez, Koulibaly, Ziyech, Mané, Salah... l'Équipe type des Africains de l'année".
- ↑ "L'Équipe type des Africains de l'année".
- ↑ "Le onze africain d'Europe de la saison 2020-21".
- ↑ "ESM Team of the Season - 2020-21". World Soccer. ngày 7 tháng 6 năm 2021.
- ↑ "IFFHS". IFFHS. ngày 1 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "CAF Men Team 2020 by IFFHS". International Federation of Football History & Statistics. ngày 13 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2020.
- ↑ "IFFHS".
- ↑ "IFFHS". www.iffhs.com. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2023.
- ↑ "IFFHS". IFFHS. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2021.
- ↑ "IFFHS". www.iffhs.com. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2023.
- ↑ @CAF_Online (ngày 7 tháng 2 năm 2022). "Not your average players Here is the #TotalEnergiesAFCON2021 best XI #AFCON2021" (Tweet). Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2022 – qua Twitter.
- ↑ "Gran Galà del Calcio 2021: trionfano Lukaku e Girelli! Scopri tutti gli altri premiati" (bằng tiếng Ý). Gran Galà del Calcio. ngày 19 tháng 3 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2022.
- ↑ "Who made the 2022 FIFA FIFPRO Men's World 11?". FIFPro World Players' Union. ngày 27 tháng 2 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2023.
- 1 2 "Achraf Hakimi elected best Moroccan player abroad". ngày 2 tháng 9 năm 2021. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2022.
- ↑ "Les dix types de wissams royaux accordés par Mohammed VI". Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2023.
- ↑ "ما هو "وسام العرش" الذي وشح به ملك المغرب "أسود الأطلس"؟". Sky News Arabia (bằng tiếng Ả Rập). ngày 21 tháng 12 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2023.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Achraf Hakimi trên trang web của Paris Saint-Germain F.C..
- Pages using national squad with unknown parameters
- Sinh năm 1998
- Nhân vật còn sống
- Vận động viên Madrid
- Cầu thủ bóng đá nam Maroc
- Cầu thủ đội tuyển bóng đá quốc gia Maroc
- Cầu thủ đội tuyển bóng đá trẻ quốc gia Maroc
- Cầu thủ bóng đá nam Tây Ban Nha
- Hậu vệ bóng đá nam
- Cầu thủ bóng đá Real Madrid
- Cầu thủ bóng đá Borussia Dortmund
- Cầu thủ bóng đá Bundesliga
- Cầu thủ bóng đá nước ngoài ở Đức
- Cầu thủ bóng đá nước ngoài ở Ý
- Cầu thủ bóng đá nước ngoài ở Pháp
- Cầu thủ bóng đá nam Tây Ban Nha ở nước ngoài
- Cầu thủ Giải vô địch bóng đá thế giới 2018
- Cầu thủ Giải vô địch bóng đá thế giới 2022
- Cầu thủ Giải vô địch bóng đá thế giới 2026
- Cầu thủ bóng đá Inter Milan
- Cầu thủ bóng đá Paris Saint-Germain F.C.
- Cầu thủ bóng đá La Liga
- Tín hữu Hồi giáo Maroc
- Cầu thủ bóng đá Serie A
- Tín hữu Hồi giáo Tây Ban Nha
- Cầu thủ Cúp bóng đá châu Phi 2019
- Cầu thủ Cúp bóng đá châu Phi 2023
- Cầu thủ Cúp bóng đá châu Phi 2025
- Cầu thủ vô địch UEFA Champions League
- Cầu thủ bóng đá Thế vận hội Mùa hè 2024
- Huy chương Thế vận hội Mùa hè 2024
- Cầu thủ bóng đá Thế vận hội của Maroc
- Huy chương bóng đá Thế vận hội
- Huy chương đồng Thế vận hội